Danh mục
Số lượt truy cập
4,980,060

Quang Trần - CHA TÔI

11 Tháng Năm 201212:00 SA(Xem: 139620)
Quang Trần - CHA TÔI

Lời Giới Thiệu:

Chúng tôi nhận được bài viết Cha Tôi của tác giả Quang Nguyễn vài ngày trước đây.

Nhận thấy đây là bài văn theo lối Tự Sự với cách hành văn trôi chảy với nhiều chi tiết sống thực trong những ngày xưa cũ mà tác giả khéo léo lồng trong bối cảnh gia đình và xã hội gây nhiều cảm xúc nên chúng tồi muốn dành một khoảng riêng để đăng theo Chủ đề NGÀY LỄ CHA vào tháng tới cho thích hợp.

Tuy nhiên, theo lời yêu cầu của anh Quang Nguyễn muốn được đăng sớm để may ra khi Cụ Ông còn tại thế có thể đọc hay “nghe thấy” nỗi lòng của Người Con đang xa xứ nhớ về thân phụ mình. Khi chuẩn bị đăng bài nầy trong lọat bài cuối tuần về Lễ Mẹ thì được tin Cụ Ông vừa qua đời ở trong nước và anh Quang đang có mặt ở Việt Nam thọ tang Cha.

Dù không kịp lúc, nhưng chúng tôi mong là bài viết sẽ chuyển tãi tấm lòng của tác giả làm mọi người hiểu anh hơn và trong cõi hư vô, thân phụ anh sẽ mỉm cười trước tình cảm của con mình!

Xin góp lời cầu nguyện cho hương hồn Cụ Ông sớm Siêu Linh Thoát Độ và Mãi Bình An nơi Cõi Vĩnh Hằng!




 

CHA TÔI

 

(Viết riêng cho Cha, trong những ngày ông đang yếu tại Việt Nam)

cha-va-con

 

Những ngày này tuy đã bước qua tháng Năm nhưng tiết trời Canada vẫn còn lạnh, buổi sáng và chiều tối vẫn còn những cơn gió hú mang theo cái lạnh của phương Bắc, nhưng mọi người đều cảm nhận được sự ấm áp của mùa xuân vừa trở lại sau khi thoát qua mùa đông giá buốt khắc nghiệt. Những trảng cỏ không còn tuyết phủ được thay một lớp áo mới xanh thẫm, nhiều cành cây nhú những mầm xanh đón chào mùa nắng ấm trở về, và từng đàn chim di trú cũng quay trở lại líu lo hát vang những giai điệu, có giai điệu nghe thật khó ưa nhưng mang lại nhiều điều thú vị cho những người đang sống nơi đây.

 
Qua những thay đổi của thời tiết và cây cỏ, mình càng cảm nhận sự tồn tại vĩnh cửu của thiên nhiên và cảnh vật, cứ hết mùa đông giá lạnh thì chúng lại đâm chồi và nở hoa trở lại. Phải chi con người được như cảnh bất biến của cỏ hoa tại Canada, chúng ta sẽ không bao giờ phải tiếc nuối và than khóc khi những người chung quanh, bạn bè và người thân của mình về cõi vĩnh hằng.

 
Mấy ngày nay, mình luôn sống trong cảm giác lo sợ và bất an, sợ tiếng điện thoại từ Việt Nam gọi qua và luôn nguyện cầu những điều mình mong mỏi nơi cha mình: là ông luôn mạnh khỏe, bình an, chứ không phải là một giọng nói trĩu nặng báo tin. Dù trong lòng mình phải chấp nhận quy luật của trời đất, với vòng luân hồi của một kiếp người. Trong vũ trụ có mặt trời và mặt trăng, trong vòng quay của trái đất có ngày và đêm, có thủy triều lên xuống và có sinh tử như lời Phật dạy.

 
Mình không được sinh ra trong một gia đình giàu có, nhiều phước lộc để các con thừa hưởng sự sung túc, giàu sang, được học hành tới nơi tới chốn như nguyện ước của cha mẹ. Nhưng đến bây giờ và mãi về sau, mình luôn cảm nhận có nhiều may mắn và đặc ân của bề trên ban cho. Mình được học hành hơn những đứa em, tuổi thơ cũng có vất vả và thiếu thốn, lớn lên có những lúc gần với cái chết nơi chiến trường nhưng vẫn bình an vô sự. Cuộc đời tuy có gian nan, ngược xuôi và thăng trầm nhưng chưa bao giờ vào ngõ cụt, trong bế tắc vẫn có người nương tay giúp đỡ, có lúc tưởng chừng trên đầu sóng, ngọn gió mình vẫn có lối thoát, không bằng ai nhưng cuộc sống vẫn còn nhiều hạnh phúc ấm áp và tuyệt diệu. Có được những cơ may như thế đều nhờ vào hồng đức của ông bà, cha mẹ, đây là điều đã giúp mình vượt qua tất cả.

 
Bây giờ mình đã trên 50 tuổi, tóc đã điểm tuyết trắng nhưng có diễm phúc là cha mẹ vẫn còn đầy đủ dù đã 84 tuổi, mà người Việt Nam gọi là thượng thọ. Trong những ngày này, mình cảm thấy không một chút bình yên vì ở bên nhà cha mình đang yếu lắm. Mình muốn ghi lại những dòng chữ này, không phải ngợi ca về cha vì thực chất gia đình mình có nổi trội gì hơn ai, nếu không muốn nói là nhà mình rất nghèo. Trong xã hội có ai gọi “ông” bán báo hay chỉ là “thằng bán báo” như gọi “thằng bán vé số", có họa chăng nếu nhìn đúng sự thật là chỉ hơn “thằng ăn mày” tìm sự bố thí của chúng sanh!

 
Nếu là dân Biên Hòa thì chắc nhiều người biết đến sạp báo đối diện trường Ngô Quyền, nhất là CHS NQ và sạp báo ấy vẫn tồn tại từ năm 1970 cho đến bây giờ. Vào những năm đầu, mình vẫn ngày đi học và chiều về chạy ra đại lý báo Huỳnh Hiệp để lấy báo, phải dùng từ “chạy”, vì lấy càng sớm, gấp báo càng nhanh thì mang về sạp sẽ bán càng nhiều hơn. Và người khai sinh ra sạp báo ấy là cha mình!

Có một điều mà mình cũng không biết phải giải thích ra sao, và vì căn nguyên nào mà đến bây giờ vẫn mặc nhiên gọi cha mình bằng “Bá“ là ba có dấu sắc và mẹ là “Bu“… Có lẽ đây là cách gọi của dân xứ Bắc mà đặc biệt của một vùng nào đó, mình cũng không tìm hiểu điều đó làm gì vì thấy nó cũng ngồ ngộ.

 
Theo như Bá kể lại, ông là con cầu tự và độc nhất của ông Nội. Ông mình hơn ba mươi tuổi mới có con, nên ông bỏ xứ mang cha mình lên thành để học hành. Thời Pháp thuộc mà được học tiểu học thôi cũng đã là số dách rồi, nhất là ở cái xứ Bắc kỳ nghèo khổ. Sau khi nghỉ học, ông đi lính Pháp tại sân bay Cát Bi-Hải Phòng rồi đến năm 1954, ông quá giang máy bay đưa gia đình vào ở sân bay Biên Hòa và định cư luôn thành dân xứ Bưởi. Có lẽ do học tiếng Pháp và làm việc với người Pháp quá lâu nên đến bây giờ ông vẫn nói trôi chảy tiếng Pháp. Hồi còn khỏe mạnh, gặp lại bạn bè, những người thân quen như Giáo sư Lê Văn Quý dạy Pháp văn ở trường Minh Tân là ông xổ tiếng Pháp mà không độn một chữ tiếng Việt, ông có thể hát quốc ca Pháp và những bài hát Pháp một cách nhuần nhuyễn. Và cũng có lẽ ông “ghét” thằng con hư hỏng nhất nhà là mình hay sao mà duy nhất trong nhà, khi vào trường Ngô Quyền ông bắt mình chọn sinh ngữ chính là Pháp văn, và đến bây giờ chỉ còn nhớ mang máng vài chữ ”moi-toi“ mà thôi.

 
Là một công chức (nhân viên đánh máy) thuộc phòng hành chính của Không đoàn 23 (sau này là Sư đoàn 3 Không quân), ông mẫn cán với công việc và trách nhiệm được giao phó. Có lẽ ảnh hưởng từ sự giáo dục thuần khiết thời bấy giờ, ông chỉ chú tâm với nhiệm vụ và chưa bao giờ có một hành động hoặc việc làm trái đạo lý, để những người chung quanh ta thán hoặc xỏ xiên, mặc dù thời đó nhất là trong cơ quan ông làm, có khá nhiều người mơ ước ngồi chỗ đó vì an nhàn, không vướng vào chiến sự. Rồi sau này chỗ ông coi luôn bộ phận “quân tiếp vụ” thì việc trục lợi và ăn chặn, ăn chia các tiêu chuẩn của mấy anh lính ma, lính kiểng rất dễ dàng (vì danh sách cả sư đoàn ông đều biết). Tuy nhiên ông không vướng vào bất cứ điều tiếng gì, không vụ lợi và không tham lam. Mình nghĩ theo thời cuộc bây giờ thì chính cái “Sạch“ đó đã làm ông nghèo, để đến những năm đầu thập niên 1970 khi viện trợ Mỹ cắt giảm, đời sống binh sĩ, công chức lúc bấy giờ quá khó khăn, đồng lương không đủ bảo trợ gia đình và nuôi sống con cái, nên ông đã phải khai sinh ra cái nghiệp bán báo từ đó! Cũng cần nói rõ, ông có cốt cách rất khỏe có lẽ nhờ ăn đồ ăn Pháp. Ông bà có đến 9 người con, gặp thời khốn đốn lo ăn, lo học cho bao nhiêu đấy con thì phải xoay ra đủ cách mà thôi, không những bán báo mà còn thêm bán dép ở chợ Kỷ niệm (đối diện trường Ngô Quyền) và sau năm 1975 còn bán đủ thứ…

 
Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình được sự cưng chiều của ông bà Nội, nên chắc có ảnh hưởng đến sự bướng bỉnh và hơi ương ngạnh và trọng cái tôi. Ngoài ra, được giáo dục trong học đường thời Pháp thuộc và rèn tập trong quân đội Pháp, nên ông luôn ngay thẳng và trung thực, cộng một chút gì đó hơi ngang ngang và khó diễn tả… Và cái bản chất ấy còn được ông thể hiện rất rõ ràng trong đời sống hàng ngày, ông sẵn sàng tuôn ra những lý luận sắc bén để đả phá bất cứ ai đi ngược lại lẽ phải và chính kiến của ông, mặc dù người đó có chức quyền cao hơn ông hoặc người đó hàng ngày đến mua báo chỗ ông bán. Đó có thể coi là gàn, là dễ gây mất lòng với người khác nhưng ông mặc kệ sự khó chịu và chấp nhận bị khinh ghét nếu có một cách thản nhiên…, âu đây cũng là bản chất chính trực đã ảnh hưởng trong ông và có lẽ cái “gen” này tồn tại đến con ông là anh Hai mình, Sau năm 1975 thì ai cũng khổ, nhưng ông anh mình giống cha là trung thực, thanh liêm, mẫn cán… và đến bây giờ đã 60 tuổi cũng vẫn vậy.

 
Có lẽ lớp tuổi mình và sau này khó có thể bắt chước được lối sống ngăn nắp, trật tự như một thời khóa biểu của ông. Sau này đã yếu nhiều chứ cách đây khoảng 3 năm ông vẫn sáng tập thể dục, chân chạy thình thịch hoặc vươn vai làm động tác thể dục buổi sáng, trong khi miệng ông vẫn hát vang vang những bài ca Pháp, hoặc các bản hùng ca như bài “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước…, rồi ông mới ăn sáng, đọc báo, nghe thời sự mà ông thích nhất là đài BBC từ lúc mình biết cho đến tận bây giờ. Sau đó ông mới đi làm ở sở, đến trưa về nhà ăn cơm cùng gia đình. Chiều từ sở về nhà không tụ tập bất cứ nơi nào, tắm rửa xong là ông lôi sổ sách ra ghi ghi, chép chép, cập nhập hàng ngày cứ như một nhà buôn lớn… rồi ăn cơm cùng gia đình, sau đó là mở cái radio ra nghe BBC tiếp cho đến khi đi ngủ.(sau này có truyền hình thì coi xong thời sự là ông cũng đi ngủ) và đều đặn ngày này qua ngày khác, đặc biệt là ông không bao giờ thích bia rượu nên vì vậy mà ông không la cà quán xá như nhiều người khác. Cái hay là ông không cảm thấy nhàm chán với cái nguyên tắc sống ấy, dù ai có khuyên ông phải thay đổi chút ít.

 
Có lẽ với tích cách này nên ông rất ít bạn bè và không giao du nhiều, cho đến bây giờ mình vẫn không giải thích được! Dù môi trường ông sống thời đó chung quanh anh em là binh sĩ, công chức... hầu hết đều biết vui chơi trong cuộc sống chụp giựt thời chiến tranh, nhưng ông không thích thú và tha thiết gì, không tụ tập nơi quán xá hoặc ghé nhà ai đó, ngồi lê la làm vài chai bia hay cốc rượu để mở lòng. Ông ít quan hệ chung quanh, một năm chỉ duy nhất trong mấy ngày tết là ông có đi thăm viếng và chúc tết gia đình bạn bè. Còn ngày thường ngoài giờ làm và sau này đi bán báo, hết công việc là ông quay trở về nhà. Cho đến khi ông làm sui gia rồi cũng vẫn vậy, quan hệ ngoại giao là giao cho vợ, có đi đâu vì chuyện hệ trọng thì ông chỉ ngồi cho đủ tụ và nhường phần phát biểu cho người khác. Ai cũng tưởng ông lập dị nhưng không phải vậy, thói quen từ nhỏ đã làm ông khác người. Ông tự cô lập không phải do mặc cảm, ông không nói không phải là tự cao hay ít nói…và ông cũng chẳng phải là người dở, chẳng qua đó chỉ là bản tính không thay đổi của ông mà thôi.

 
Cung cách sống đời thường thì vô cùng giản dị, một anh công chức quần áo chỉnh tề là được, không se sua chưng diện và đòi hỏi gì. Từ nhỏ cho đến tận bây giờ vẫn mái tóc húi cua, gần trọc lóc như lính tân binh hay dân xứ Đại Hàn, nên ngay các con trai của ông học đến Trung học cũng phải cắt tóc ngắn, đi học thì mang giày ba-ta chứ không được mang bất kỳ thứ nào khác. Có lẽ ông thích Pháp nên đi làm cũng chỉ bằng xe Mobylett chứ không dùng Honda của Nhật, dù 2 thứ gần ngang giá cả, kể cả sau này sắm thêm cũng là Mobylett mà thôi. Nên sau năm 1975 được gia đình trưng dụng làm 2 chiếc xe thồ củi trên rẫy cũng tiện. Trong nhà thì mua sách học cho con là chính chứ không thấy ông để ý mua sắm các vật dụng không cần thiết khác. Cả một đời cung cách tiết kiệm của ông là dành phần lớn để nuôi con ăn học thôi, nên ông hay khoe là tuy nghèo nhưng con ông học Phú Thọ và toàn học Ngô Quyền, lại có con gái học giỏi năm nào cũng phải lấy xe Mobylett chở con đi lãnh phần thưởng…

 
Đối với vợ, ông cũng không phải là người gia trưởng và trong hơn 60 năm cùng chung chăn gối, chưa thấy xảy ra điều gì đáng phàn nàn trong cách đối xử của ông đối với bà. Chưa bao giờ nghe một lời nói nặng nề đối với vợ. Có gì mà bà nấu là ông ăn, coi bữa cơm chỉ là điều kiện cần thiết để sống, không câu nệ ngon dở, sang hèn… Nhà nghèo với bữa cơm đạm bạc cũng chưa bao giờ có một câu phàn nàn với bà, những năm cuối thập niên 1970, thậm chí có ăn độn thì ông vẫn hát ào ào, chẳng tiếng kêu ca để làm phiền lòng bà. Nhưng có một điều là chỉ có bà nấu thì ông ăn ngon lành, bà bận đi xa lâu ngày ai nấu ăn ông cũng chê! Nhất là pha cà phê sáng, ông không bao giờ ra quán ngồi, sáng dậy sớm là ông kêu bà cùng dậy, rồi nấu nước pha cho ông uống. Thậm chí bà có muốn ngủ thêm cũng không được vì ông sẽ réo cho bằng được, vì chỉ có cà phê của bà pha là ông mới uống mà thôi. Mình thì chưa thử cà phê bà pha thế nào lại gây nghiện cho ông như vậy!

 
Đối với con cái, ông không có biểu hiện cách sống nặng tình cảm trong lời nói, nhưng ông tập trung lo cho con về chuyện học hành. Cho con được đến lớp là gánh nặng nhất của ông. Do chiến tranh nên sau năm 1968, ông không chịu ở trong trại gia binh nữa mà tìm mua một căn nhà trong xóm nhỏ. Theo thời giá lúc ấy thì một căn nhà mặt tiền phố với căn nhà trong hẻm không có chênh lệch lớn lắm, nhưng theo cách nghĩ của ông thì ở trong xóm xa phố thị sẽ không ồn ào, và những hình ảnh không đẹp ảnh hưởng đến chuyện học hành của các con. Ngày con còn nhỏ, ông uốn nắn từng đứa tập viết, tập đồ chữ, đánh vần ê a, nên trong nhà mình ai cũng viết chữ tương đối đẹp. Lớn lên một chút là ông giao lại người con lớn kèm cặp lớp nhóc tiếp theo, điển hình là hàng tuần phải làm đủ số lượng bài tập quy định ngoài sách giáo khoa của nhà trường. Nhà tuy chật nhưng ông cũng mua 1 bộ bàn ping-pong để các con chơi ngoài giờ học, không cho la cà nơi khác, và sau này cũng có ích vì bàn ping-pong được biến thành chiếc gường nằm cho bầy trẻ. Có lẽ điều ông buồn lòng nhất là sau năm 1975, ông không còn khả năng lo cho những đứa em mình để chuyện học hành phải dang dở, nhưng trong anh em không một ai nhắc đến và làm ông buồn phiền về chuyện này, vì ai cũng hiểu thời cuộc đã làm đổi thay tất cả.

 
Còn nhiều chuyện đáng kể về ông, kể cả chuyện bên ngoài nói ông bất hiếu không chăm sóc cho mẹ. Sự việc là sau khi ông Nội mất năm 1968 thì bà Nội như bị bịnh hoang tưởng, bà hay bỏ nhà ra đi về hướng mà bà bước xuống miền Nam là sân bay Biên Hòa, với ý nguyện là chết nơi quê cha đất tổ. Lúc ấy bà Nội đã trên 70 tuổi, nhà lại bận rộn, cha đi làm, mẹ đi bán, con lớn đi học xa. Cứ vắng người là bà bỏ đi, và một lần bỏ đi thì y như rằng có xe quân cảnh Không quân chở bà từ sân bay ra tận phòng hành chánh giao lại cho ông (cũng hay là bao nhiêu bốt gác vậy mà bà vẫn đi lọt, có lúc tận đường băng sân bay)… và cứ mỗi lần như vậy là thêm những lời dị nghị… nhưng ông chấp nhận, không than van và cũng không oán trách chuyện thị phi, đàm tiếu cho đến khi bà Nội mất năm 1972. Ngay đến sau này, khi mình lập gia đình, cũng còn có người đặt lại vấn đề về sự hiếu thảo và đối xử với cha mẹ của ông ra nhằm mỉa mai, cản trở hôn nhân của mình.

 
Hay về chuyện gõ chuông và cầu nguyện cho mình và sau đó là đứa em trai mà cả xóm ai cũng biết và hay trêu đùa ông. Vì hơn ba năm mình và em trai (với cũng ngần ấy thời gian) nằm ở chiến trường Kampuchia. Hàng ngày hai buổi, sáng sớm khi mọi người còn an giấc và chiều tối là ông gõ chuông và cầu khẩn ơn trên ban an lành cho con. Mà cái giọng của ông thì nào có nhỏ, gõ chuông thì mạnh mẻ vang động nên láng trên, xóm dưới ai ai cũng biết. Có lẽ cũng nhờ sự thành khẩn của ông mà ơn trên đã độ trì để anh em mình bình yên trở về nhà, dù cuộc chiến ấy cũng khốc liệt và nguy hiểm.

 
Càng viết về ông, mình càng cảm thấy ân hận là một đứa con bất hiếu. Hơn 50 tuổi nhưng bước chân lang bạt vẫn chưa dừng lại, quảng thời gian bên gia đình chỉ đếm được trên đầu ngón tay, còn lại là biền biệt xa quê và bây giờ thì sống tha hương nơi xứ người. Chưa bao giờ mình đền đáp công ơn cha mẹ trọn vẹn, có về chăng bên gia đình thì cũng chỉ là người ở trọ năm nào về thăm chốn cũ. Chưa một lần chăm sóc, dưng trà hay đơm cơm cho cha mẹ. Có những ngày tháng ở Biên Hòa, thì cũng chợt đến và chợt đi thật vô trách nhiệm. Có thể ngồi đàn đúm với bạn bè cách nhà chẳng bao xa, có thể tiêu xài tiền ngàn, tiền triệu…nhưng cứ nhấp nhảy theo con sóng hào nhoáng đời thường, chứ có khi nào nhớ đến việc chia sẻ trách nhiệm và làm tròn bổn phận người con chung tay phụ giúp gia đình, chăm sóc cha mẹ. Nỗi ân hận này của mình sẽ ray rứt mãi về sau.

 
Giờ đây ông đã yếu nhiều. Có điện thoại về thì cũng chỉ nghe tiếng nói không rõ do lưỡi ông muốn cứng lại. Mình chỉ biết cầu nguyện cho ông, và nếu có một điều ước thì mình chỉ ước nguyện ơn trên lấy đi phần đời của mình xin để trao cho cha, mẹ đã vất vả ngược xuôi nuôi mình khôn lớn được sống mãi mãi.

Bá ơi, hãy chờ con về, con đang sắp xếp những phần việc bên này để về bên Bá. Chỉ cần con được Bá gật đầu tha lỗi cho đứa con bất hiếu này, là đời con mãn nguyện, để nỗi ân hận dần chìm tan trong con.

 

Con của cha

Quang Trần (Canada)

May, 04-2012

 

 

13 Tháng Mười 2018(Xem: 166)
Sáng nay thức dây nghe tiếng chim ca. Lại tưởng như mình ở tại quê nhà Bình minh reo vang, thanh bình êm ả Thương quá một thời. Kỷ niệm đã qua.
12 Tháng Mười 2018(Xem: 1046)
Nay, hoa bằng lăng tím rợp trời, giữa mùa nắng hạ, Đường làng quê, ong bướm lựơn lao xao. Vẫn nhớ ngày xưa, khi mùa hè sang nắng đỗ, Có ai về thăm người cũ, Quê hương?!
06 Tháng Mười 2018(Xem: 274)
Chênh chếch... trăng mờ trên đỉnh vắng Âm thầm... bóng nhỏ giữa đồi hoang Đàn ai khéo gợi hồn thơ dậy Nhớ thức cùng em... dẫu nguyệt tàn !!!
05 Tháng Mười 2018(Xem: 264)
Chú thật là thương, thương ông nội vô cùng. Chú không còn thấy nhớ nhà mà lại thích được ở đây cùng ông nội hàng ngày tụng kinh lễ Phật.
04 Tháng Mười 2018(Xem: 237)
Chào mặt trời ngủ yên. Chào cuộc đời rất hiền. Chào bầy chim về tổ Ta ngồi lại tập... thiền
04 Tháng Mười 2018(Xem: 1147)
Có ai động lòng bước qua đường? Dù chỉ cảm xúc tỏ tình thương. Một chút đau buồn trong tâm trí, Để còn XÓT XA cho QUÊ HƯƠNG!
28 Tháng Chín 2018(Xem: 368)
Thế là sau mấy ngày suy nghĩ, ba chú đồng ý đem con lên chùa làm thị giả cho ông nội. Chú Thảo rời gia đình từ lúc đó.
28 Tháng Chín 2018(Xem: 253)
Nhỏ yêu ơi! Nhớ em chất ngất. Nước mắt nhớ thương mằn mặn Biển ngàn thu.
28 Tháng Chín 2018(Xem: 1075)
Thu nhớ, Thu mong, của vạn lòng, Bao giờ Thu hết nỗi hoài mong. Cho hồn Thu vơi sầu tê tái Thu ấm bao lòng, có được không?
22 Tháng Chín 2018(Xem: 380)
Xin trân trọng giới thiệu tập thơ "NGUỒN THẬT" của tác giả Phong Châu. Một chàng rể khóa 5 của Ngô Quyền chúng ta.
21 Tháng Chín 2018(Xem: 404)
Đêm vắng lạnh, chỉ một mình mình viết Những vần thơ gửi đến kẻ miền xa Như ngày xưa anh đi lính xa nhà Giờ thật sự vợ lính thành góa phụ
20 Tháng Chín 2018(Xem: 1172)
Thoáng phút giây, rồi... không nhung nhớ, Gác sau lưng, vứt bỏ những ưu phiền . Quê Mẹ qua rồi bao nỗi đau thương, THANH BÌNH đến: an vui hạnh phúc.
15 Tháng Chín 2018(Xem: 448)
. Văn hóa VN mới sẽ bắt đầu lại từ những đứa bé học những hình vuông, hình tròn, hình tam giác hôm nay sao? Thật là đau lòng cho chữ Việt.
14 Tháng Chín 2018(Xem: 398)
Tử biệt, sinh ly Đau thương tê dại. Cầu nguyện người ra đi Chúc lành người ở lại. Một nén tâm hương. Tưởng niệm. Ngậm ngùi. God Bless America.
14 Tháng Chín 2018(Xem: 1234)
Đà Lạt, cao nguyên của ngàn thông, Trăm hoa tô điểm đẹp muôn lòng. Sáng, chiều bảng lảng màu sương phủ, Lòng nào du khách chẳng hoài mong.
07 Tháng Chín 2018(Xem: 915)
Rằm tháng 8 anh buông tay thanh thản. Trung thu này em làm lễ giỗ đầu. Ba lần Trung Thu bao kỷ niệm khắc sâu. Để nhớ mãi người đi không trở lại.
07 Tháng Chín 2018(Xem: 1275)
THANH BÌNH- Trăng khuyết lại đầy, Rồng mây gặp hội NON SÔNG thái bình. NƯỚC NON hết cảnh điêu linh, NHÂN DÂN an lạc SƠN HÀ vinh quang.
01 Tháng Chín 2018(Xem: 513)
Thằng bé con. Đập con heo đất Vào ngày cúng Phật. Thắng hội Vu Lan. Ngày Lễ huy hoàng Tạ ơn Cha Mẹ... Nhưng thật quý báo. Tâm thành kính dâng. Tâm hồn trong ngần. Trái tim thánh thiện
26 Tháng Tám 2018(Xem: 648)
Rồi cũng sẽ có một ngày, vào lễ Vu Lan, con cháu sẽ quỳ xuống như ta bây giờ mà cầu nguyện cho ta. Lúc ấy trong tâm tưởng chúng, tất cả những gì tốt hay xấu mà ta đã làm sẽ hiện
25 Tháng Tám 2018(Xem: 732)
Hoa dâng má là mai vàng trước cổng Là ngọc Lan thơm ngát quyện mùi hương Là hoa cà phê trắng xóa ở khắp vườn Là vạn thọ rực rỡ vào dịp Tết.
24 Tháng Tám 2018(Xem: 845)
Cánh Phượng xưa đã khô trong trang vở Nhưng trong tôi thương nhớ vẫn còn nguyên Giữa sân trường một mình tôi lặng lẽ Nhặt cho mình cánh hoa Phượng vừa rơi.
04 Tháng Tám 2018(Xem: 727)
Những nốt nhạc vui đã vang lên trong lòng mỗi chúng ta. Hãy hòa lời ca để bản hợp ca NQ bay lên cao, vang rộng và ý nghĩa nhất.
04 Tháng Tám 2018(Xem: 790)
Em bất chợt, thấy anh trong bức ảnh Ngôi trường xưa và anh đứng một mình. Con nhỏ Hoàn lén chụp một tấm hình "Mần răng mà nói!" Thời giáo sinh nghịch ngợm.
27 Tháng Bảy 2018(Xem: 824)
Về với NQ nghen thầy. Về để nắm tay thầy Hoài xiết thật chặt để nhớ về NQ . Cái thuở ban sơ trường mới thành lập, còn ở tạm, dạy nhờ.
27 Tháng Bảy 2018(Xem: 995)
Và như thế, thiên nhiên luôn thách đố Trốn nắng CALI gặp lại nóng ARIZONA Núi tiếp núi, cảnh tuyệt diệu bao la Tôi tận hưởng một mùa hè đáng nhớ
26 Tháng Bảy 2018(Xem: 1104)
Thôn Vĩ đêm nay, ở lại đây, Tìm: “Bến Trăng, nhìn hoa bắp lay”, Chợ Đông Ba, mai mình ra sớm, Sông Hương mơ màng, HUẾ MỘNG MƠ.
21 Tháng Bảy 2018(Xem: 1133)
Cuộc đời gió thoảng, mây bay Tri ân trân trọng cô thầy hôm nay. Bụi phấn theo gió tung bay Lời thầy dạy dỗ giữ hoài trong tim.
21 Tháng Bảy 2018(Xem: 1243)
Bốn bốn năm vẫn không quên mùa hạ Chùm phượng hồng đang day dứt trên cao Tôi hái xuống mặc dâng trào cảm xúc Tình đầu đời nghĩ lại cũng nôn nao