Danh mục
Số lượt truy cập
4,968,941

GS. Nguyễn Văn Lục - Nhận định về ba vai trò của Bảo Đại: Vua, Cố vấn tối cao, và Quốc trưởng (P5)

12 Tháng Giêng 201712:52 CH(Xem: 2732)
GS. Nguyễn Văn Lục - Nhận định về ba vai trò của Bảo Đại: Vua, Cố vấn tối cao, và Quốc trưởng (P5)

Nhận định về ba vai trò của Bảo Đại: Vua, Cố vấn tối cao, và Quốc trưởng (P5)


tran-trong-kimSau vụ từ chức của Trần Trọng Kim, con thuyền chính trị Việt Nam quốc gia hẳn là sẽ chìm. Dân chúng nói chung cảm thấy hân hoan vui mừng khi hai quả bom nguyên tử bỏ xuống Hiroshima và Nagasaki vào 6 và 9 tháng 8, 1945.

Tìm hiểu con người Bảo Đại qua cuốn Hồi ký của ông

 

Đối đầu với các cơn bão chính trị

Bảo Đại đi Pháp với gia đình từ tháng 5, 1939, đến ở lâu đài Thorence, Cannes. Đây là lần thứ hai Bảo Đại trở lại lâu đài Thorence tong năm 1939; lần đầu vào tháng Giêng đi an dưỡng vết thương chân gẫy ở Ban Mê Thuột từ tháng 12, 1938. Chiến tranh đã gần kề, triều đình Huế đã thúc giục Bảo Đại phải cấp tốc hồi hương để tránh bị kẹt lại Pháp. Bảo Đại về Việt Nam bằng chiếc máy bay một động cơ Dewoitine, đã dùng trong chuyến đi sang Pháp. Đoàn tùy tùng không thể đông người: một phi công, một thợ máy và một nhân viên truyền tin.

Hoạ đồ khu vực lâu đài Thorenc của Bảo Đại mua từ năm 1937 và sống ở đó đến những năm 1960. Toàn diện khu đất rộng 26.930 m2. Nguồn:  http://bit.ly/2hO33IY

Hoạ đồ khu vực lâu đài Thorenc của Bảo Đại mua từ năm 1937 và sống ở đó đến những năm 1960. Toàn diện khu đất rộng 26.930 m2. Nguồn: http://bit.ly/2hO33IY

Về tới Huế, ông được Phạm Quỳnh đón tiếp và chẳng bao lâu sau, ngày 3-9, chiến tranh thế giới bùng nổ. Sau khi loại trừ vai trò Ngô Đình Diệm Phạm Quỳnh trở thành nhân vật số một của triều đình Huế mà Ellen J. Hammer gọi một cách mỉa mai là “những nhà cải cách không có cải cách”. Ellen.J.Hammer viết:

“Phạm Quỳnh đã có một ảnh hưởng lớn hơn trong chính quyền Việt Nam sau khi Ngô Đình Diệm từ chức. Phạm Quỳnh cũng tỏ ra hòa hoãn nhiều hơn với người Pháp để vẫn hy vọng người Pháp cho phép một sự tự chủ cho Việt Nam, một thể thức theo kiểu Dominion Status như đế quốc Anh đã thực hiện.”

(Ellen J.Hammer, The struggle for Indochina, Stanford University Press, 1954, trang 86)

Cho nên, nhiều phần bản hiệu triệu sau đây là do chính tay Phạm Quỳnh soạn sẵn cho Bảo Đại.

Ngày 15 tháng 9, Bảo Đại đưa ra một bản hiệu triệu quốc dân:

“Đây là một cuộc chiến tranh danh dự nhằm bảo vệ một mục đích cao cả và cuộc chiến này nay đã bắt đầu do nhà nước bảo hộ vĩ đại đang phải đối đầu. Đất nước và người dân chúng ta là thành phần của cái toàn thể của đế quốc Pháp. Bổn phận của chúng ta đã được ấn định rõ: Chúng ta đứng trong hàng ngũ bên cạnh nước Pháp để hỗ trợ bằng hết năng lực của chúng ta trong cuộc chiến đấu vĩ đại này.”
(S.M. Bao Daï, ibid., trang 93)

Nội dung những lời hiệu triệu này sẽ đổi giọng khi người Nhật lên nắm quyền ở Đông Dương cũng như diễn văn từ chức của ông khi Hồ Chí Minh lên nắm quyền. Cùng một vị vua mà ở ba thời điểm khác nhau, lời tuyên bố sau như ngược lại với lời hiệu triệu trước. Nhưng trách ông làm gì vì cả ba lần, đã có người viết sẵn cho ông rồi, ông chỉ là người đọc lại như cái máy viết sao đọc vậy!

Trong viễn tượng một đất nước đang mưu cầu dành độc lập, nhân danh hoàng đế Annam, bài diễn văn của Bảo Đại chứng tỏ vai trò một thứ tay sai của Pháp qua trung gian Phạm Quỳnh. Vai trò của Phạm Quỳnh thật kín đáo, khéo léo và tế nhị, nhưng có thể không lọt qua mắt những người như Phan Bội Châu, nhất là Việt Minh.

Andrée Viollis, một phóng viên đã từng có cơ hội tiếp xúc với Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu đã ghi lại một nhận xét sâu sắc của Phan Bội Châu như sau:

“Tôi không được biết dân tộc Pháp thế nào, nhưng chỉ biết qua sách vở của Pháp, qua những tư tưởng của Pháp; Và tôi đã không tìm thấy những nguyên tắc ấy nơi tâm hồn những người Pháp tại Đông Dương. Họ không đối xử với chúng tôi như là anh em, như bình đẳng như họ từng tuyên bố trong Bản Tuyên ngôn về Nhân Quyền mà họ đã dạy cho chúng tôi, họ đối xử với chúng tôi như những nô lệ và đôi khi tệ hơn nữa như những con chó…”

(Andrée Viollis, Indochine S.O.S, sách xuất bản tháng 9-1935 tại nhà Gallimard, do André Malraux đề tựa trang 95-98)

Có một vài sự kiện rõ ràng là chính quyền Bảo Đại có một tiếng nói nhịp nhàng và đồng thuận với nhà nước Bảo Hộ. Phần đông dân Việt Nam, theo lẽ thường, theo Pháp của thống chế Pétain thay vì theo Pháp kháng chiến của De Gaulle ở Luân Đôn.

Ở Sài Gòn, người Pháp cũng chia ra hai phía. Chính quyền sở tại của Pháp vẫn chính thức theo Pétain. Nhưng còn lại những sĩ quan Pháp có lòng họ trở thành những kháng chiến quân ngay giữa lòng địch. Dù còn bé, tôi cũng thấy trong nhà tôi có treo trên tường một khung ảnh thống chế Pétain. Ai đã phát động chiến dịch treo ảnh này thì thật sự tôi không biết. Sau này thì mới được biết, tất cả sự tuyên truyền này do Decoux chủ trương.

Thống chế Phillipe Pétain Nguồn Onthenet

Thống chế Phillipe Pétain Nguồn Onthenet

Trong cái tình thế tranh tối tranh sáng này, người Việt nói chung cả ba miền ở thế trông chờ.

Lúc chiến tranh thế chiến bắt đầu, một số người Việt tình nguyện đầu quân sang Pháp. Người Pháp mở các lớp huấn luyện sĩ quan, tương đương với trường quân sự Saint-Cyr. Một số sinh viên, thanh niên đã gia nhập trường này mà sau này trở thành tướng tá trong quân đội Việt Minh và nhất là trong quân đội VNCH.

Một số cả ngàn người khác xin gia nhập đi làm thông dịch viên, lính thợ chuyên môn để có dịp được sang Tây một chuyến. Những thành phần này sau chiến tranh đều ở lại và ít ai có cơ hội trở về Việt Nam.

Ngoài ra, còn có những người làm chính trị thuộc đủ phe phái cũng ở thế chờ đợi. Trong đó có lẽ lá bài Cường Để do Nhật đỡ đầu là quan trọng vẫn chưa có cơ hội xuất hiện nên chắc vẫn phải kiên nhẫn chờ vì giờ của họ chưa tới?

Nhưng trong dư luận, Việt Minh có thể là đã khôn khéo nay vừa tuyên truyền chống phát xít Nhật và chống thực dân Pháp.

Khoảng 90,00 đàn ông Việt Nam -- lính thuộc địa -- đã chiến đấu trong quân đội Pháp trong Thế chiến 1 và trong số này khoảng 30.000 người đã thiệt mạng, một tỷ lệ thương vong cao hơn nhiều hơn so với quân đội chính quy của Pháp và Anh. Điều này có thể do một số yếu tố, như huấn luyện kém dành cho quân đội thuộc địa, hoặc Pháp sử dụng quân đội thuộc địa người Việt Nam làm bia đỡ đạn, để giảm số thương vong cho lính người Pháp. Nguồn: http://bit.ly/2htN6eD

Khoảng 90,00 đàn ông Việt Nam — lính thuộc địa — đã chiến đấu trong quân đội Pháp trong Thế chiến 1 và trong số này khoảng 30.000 người đã thiệt mạng, một tỷ lệ thương vong cao hơn nhiều hơn so với quân đội chính quy của Pháp và Anh. Điều này có thể do một số yếu tố, như huấn luyện kém dành cho quân đội thuộc địa, hoặc Pháp sử dụng quân đội thuộc địa người Việt Nam làm bia đỡ đạn, để giảm số thương vong cho lính người Pháp. Nguồn: http://bit.ly/2htN6eD

Chính phủ nước Pháp đã cử một viên tướng làm toàn quyền để đương đầu với hoàn cảnh chiến tranh. Đó là toàn quyền Georges Catroux mà Bảo Đại đã có nhiều dịp gặp gỡ và quen biết. Vì thế, mối liên lạc giữa đôi bên trở nên thân mật và đằm thắm hơn những vị tiền nhiệm. Riêng bà Nam Phương và bà Catroux trở thành những người bạn thân thiết và bà Catroux thường có mặt trong các buổi họp mặt tại gia đình hoàng hậu ở Đà Lạt.

Tình hình ở Việt Nam bề ngoài có vẻ yên tĩnh. Nhưng tại Pháp, tháng sáu 1940, quân đội Đức xâm chiếm nước Pháp.

Ngày 19 tháng 6, 1940 chính phủ Nhật Mikado, qua trung gian đại sứ Pháp tại Tokyo, đã gửi tối hậu thư cho toàn quyền Đông Dương ngay ngày hôm sau phải đóng cửa biên giới Việt-Trung dưới quyền kiểm soát của Nhật. Người Pháp tại Việt Nam hoàn toàn bị cô lập với chính quốc và để giữ an toàn cho Đông Dương, Catroux không kịp thông báo về Pháp đã tuân hành theo tối hậu thư của Nhật.

Ngày 25 tháng Sáu, 1940 chính phủ Pétain đã quyết định giải nhiệm Catroux và thay thế bằng tướng Jean Decoux làm Toàn quyền Đông Dương.

Tình thế lúc bấy giờ coi như người Pháp đã thua trận tại chính quốc, nhưng tại Việt Nam, thể chế chính trị coi như vẫn giữ tình trạng như trước. Người Nhật đến thay thế người Pháp, cũng không hề tiếp xúc với Bảo Đại ở Huế, kéo dài hơn 4 năm cho đến 1945.

Bảo Đại vẫn tiếp tục cuộc sống riêng với những thú vui riêng của ông. Ông thích dùng chiếc máy bay Morane 343 biểu diễn lượn nhào trên thành phố Huế. Hoặc những chuyến đi săn hoặc ở Quảng Trị, hoặc ở Đà Lạt hoặc ở Ban Mê Thuột.

Ban đêm, chỉ cần một người hầu cận, nhà vua lái xe trong rừng khi biết có con hổ nào đó tới gần. Nhà vua dùng đèn pha của xe tiến lại gần và chỉ bắn khi chắc chắn rằng chỉ bằng một viên đạn bắn chết con hổ. Nhà vua đã bắn hạ được bao nhiêu con? Con số có thể cả trăm hoặc hơn trăm con. Đấy là một thành tích đi săn có thể không mấy ai sánh bằng.

Cái hãnh diện của ông trong việc nhào lộn trên không giá dùng vào việc khác thì hay biết mấy. Cái dở của phần đông người Việt Nam, xét theo lịch sử, là từ bao đời cái lòng ái quốc của họ trực tiếp dựa trên sự tín phục vào một ông vua, một chế độ phong kiến. Trung với vua là một nhận thức sơ đẳng. Phong trào Cần vương là một thí dụ điển hình của lòng trung thành ấy. Sau này, các phong trào quốc gia, không có nổi một lãnh đạo xứng đáng, vẫn bám vào hư danh của một con người như Bảo Đại. Cái hay thì ít, cái dở thì quá nhiều và họ sẵn sàng bỏ qua tất cả những cái “không làm gì” của Bảo Đại. Riêng Bảo Đại, ông vẫn xác tín rằng ông được quần chúng ủng hộ mỗi khi ông xuất hiện.

Bề ngoài có thể đúng như vậy. Không một lãnh đạo quốc gia nào khác được dân chúng biết mặt và dành cho những tiếng hoan hô, chào đón ông như vậy. Ngay khi có dịp Sihanouk mời ông sang thăm Campuchia, ông đã đi xe hỏa đến Sài Gòn cùng với hoàng hậu. Sau đó dùng đường bộ đến Bến Tre, quê hương của bà Từ Dũ, vợ vua Tự Đức. Dân chúng hai bên đường vẫn bầy hương án bên vệ đường đón tiếp nhà vua. Chỉ rất tiếc, nhà vua nhận sự đón tiếp đó một cách “nhưng không” thay vì nghĩ tới bổn phận trách nhiệm hay bổn phận của quân vương.

Bằng cớ nhận xét về sự có mặt của người Nhật của ông sau đây thật hời hợt và nông cạn.

Và sau đây là nhận xét của Bảo Đại:

“Thực tế mà nói, trong suốt thời gian này, tôi không có một tiếp xúc nào với người Nhật. Sự có mặt của họ có vẻ kín đáo, không gây một cản trở nào cho Việt Nam.”

(S.M. Bao Daï, ibid., trang 98)

Thực tế, người Nhật có phải như vậy hay không? Điều đó cũng chứng minh cho thấy rằng, Bảo Đại chẳng quan tâm gì đến tình hình chính trị ở trong nước cũng như quốc tế. Ông mù tịt đến tội nghiệp.

Chính vì thế, để hiểu được tinh hình lúc bấy giờ, không có cách nào khác là phải dựa vào một số tài liệu của ngoại quốc. Ngoài ra, tài liệu về phía người Việt, may mắn là ở Sài Gòn, có những nhà báo như Nguyễn Kỳ Nam, tức Nam Đình, báo Điện Tín tường thuật khá đầy đủ về sinh hoạt chính trị trong Nam. Ngoài Bắc, cuốn Việt Nam Máu lửa của Nghiêm Kế Tổ không đáng tin cậy. Hầu như tài liệu càng hiếm hoi hơn, ngoại trừ Ký sự 1939-1954 của Đoàn Thêm. Bổ túc thêm vào đó, có một vài cuốn Hồi Ký của Trần Trọng Kim, Nguyễn Xuân Chữ.

Một lần nữa nói lên cái nghèo nàn đến vô nghĩa của Sử Việt. Người Việt Nam làm nên lịch sử, nhưng không viết nổi sử. Cuộc chiến 1946-1954 cũng như cuộc chiến 1955-1975 người Việt Nam trực tiếp đổ biết bao xương máu, nhưng có cuốn sách sử nào của cả hai bên xứng đáng để đọc? Miền Nam cũng có một số tác giả chứ không phải là không có. Nhưng chưa đủ. Tôi đặt câu hỏi như một sự thách thức một sự trả lời. Kinh nghiệm cá nhân tôi, tôi chỉ còn biết dựa vào tài liệu của Pháp, của Mỹ mà họ xứng đáng trong vai trò viết sử của họ.

Người Nhật coi Đông Dương như một căn cứ hậu cần cung cấp thực phẩm lúa gạo

Có thể toàn quyền Albert Sarraut, bộ trưởng bộ thuộc địa và một thời là toàn quyền Đông Dương đã có những lượng giá cao và chính xác về Đông Dương, ngay từ năm 1923. Ông so sánh nhiều thuộc địa của Pháp ở hải ngoại như tại Bắc Phi và ông cho rằng:

“Đông Dương, về mọi phương diện, là một vùng quan trọng nhất, một vùng thịnh vượng nhất trong các thuộc địa của chúng ta.”

(Albert Sarraut, La mise en valeur des colonies Francaises, Paris, 1923, trang 463)

Với 23 triệu dân gồm 5 khu vực và ba sắc dân. Ngoại trừ người Việt Nam có sự chống đối lại người Pháp, người dân Campuchia và Lào vốn sợ những áp lực từ phía Việt Nam nên vào dịp này họ dựa vào người Pháp như một điểm tựa và thuần phục.

Vì vậy chỉ với 40.000 kiều dân Pháp và binh lính ở rải rác, người Pháp xem như đủ thế mạnh để duy trì an ninh và ổn định trên toàn cõi Đông Dương.

Chính sách thuộc địa là con đẻ ra chính sách kỹ nghệ. Chẳng bao lâu sau thời kỳ thuộc địa, dân số Sài Gòn tăng gấp đôi. Cũng chỉ trong vòng thời gian 40 năm trước, người ta chưa hề nhìn thấy có một cây cao su nào mà đến thời hực dân có thể tính tới hàng triệu cây. Cả vùng đồng bằng sông Hồng trước đây hàng thế kỷ. mỗi năm dân chúng chịu ngập lụt vì hệ thống đê điền yếu kém. Nhưng câu chuyện vỡ đe, hộ đê đã đi vào văn học như trong truyện Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn. Vỡ đê thì mất mùa, dân chúng rơi vào tình trạng đối kém.

Nhờ người Pháp đến củng cố được hệ thống đê điền và còn kéo dài hệ thống đê điền xuống các tỉnh phía Nam và nhờ đó giúp hệ thống tưới tiêu cho hàng trăm ngàn mẫu ruộng dọc theo các con sông lớn như sông Hồng Hà, sông Đáy. Cuộc sống người dân phần nào đỡ vất vả hơn xưa.

Và ở phía Nam, việc khai thông sông ngòi cũng giúp cho việc khẩn hoang, biến hàng vạn mẫu đất hoang nay đã có thể trồng trọt và giúp sự di chuyển trên sông lạch dễ dàng di chuyển từ vùng này sang vùng khác. Đó là những gì người Pháp đã làm và để lại, dù có muốn chống Pháp hay theo Pháp cũng phải nhìn nhận một thực tế rõ ràng như vậy.

Nhưng dù muốn dù không, những công trình người Pháp làm ở Việt Nam mục đích trực tiếp vẫn đem lại lợi ích cho thực dân Pháp. Vì thế, những quyền lợi mà người Pháp có được ở đây phần lớn dựa vào sự xuất cảng như sau:

“Hàng năm xuất cảng 1,600,000 tấn than, 1,400,000 tấn gạo, 500,000 tấn bắp, 140,000 tấn xi măng và 60,000 tấn cao su.”

(Ellen J. Hammer, ibid,.trang 72)

Người Nhật được coi là một “hiểm họa da vàng” lúc bấy giờ cũng đủ khôn ngoan và nhận thấy rằng tiềm năng của Đông Dương như một hậu cần cho quân dội viễn chinh của Nhật tại Đông Nam Á. Xứ Nam Kỳ đứng thứ nhì thế giới về xuất cảng gạo. Và chính quyền Nhật đã không ngần ngại bắt Decoux phải cung cấp lúa gạo cho Nhật.

Nước Pháp  trở thành trung gian hậu cần, cung cấp và nuôi quân đội Nhật đóng tại Việt Nam và có thể cả ở Đông Nam Á.

Mục tiêu chiến lược chiếm Đông Dương của Nhật vì thế trở thành tối yếu trước sự yếu kém rõ ràng của người Pháp. Họ cách xa chính quốc cô lập, yếu kém về tiếp liệu, về trang bị vũ khí. Tuy nhiên, bên cạnh đố vẫn còn những nhóm kháng chiến theo De Gaulle như tổ chức Gordon với đài phát thanh Pavie. Đài này thường xuyên phát thanh bí mật tuyên truyền chống lại Phát Xít Đức và Nhật. Ngoài ra, họ còn tổ chức phá hoại các đường xe lửa, ngăn chặn Nhật dùng để vận tải lương thực hàng hóa. Nhưng chính quyền thực dân Pháp cũng lại rất e ngại những thành phần du kích này, vì họ sợ Nhật biết được sẽ chấm dứt vai trò bảo hộ của Pháp của họ ở Đông Dương.

Nhưng khi chiến tranh thứ hai càng có dấu hiệu mỗi ngày phô diễn sức mạnh của phe đồng minh nhất là khi Mỹ nhập cuộc. Đức tỏ ra yếu thế trên các mặt trận và người ta tin tưởng chẳng bao lâu nữa, phía đồng minh sẽ chiến thắng được Đức thì một số thành phần hạ sĩ quan và ngay cả sĩ quan Pháp của chính quyền bảo hộ đã bí mật đi theo các nhóm kháng chiến này ngày một đông hơn.

Phía người Nhật, họ hết áp lực trên Catroux, sau lại áp lực trên Decoux. Decoux ngóng cổ trông chờ vào sự viện trợ của Mỹ một cách tuyệt vọng. Nhưng Mỹ trả lời dứt khoát chỉ có thể bảo đảm tình trạng hiện tại, còn không có kế hoạch nào nhằm giải giới quân Nhật tại Đông Dương.

Tướng Yuitsu Tsuchihashi, Tu lện quân đội Nhật tại Đong Dương - gười ra tối hậu thu cho Jean Decoux. Nguồn: By Unknown - http://imperialarmy.blog3.fc2.com/blog-entry-32.html, Public Domain, https://commons.wikimedia.org/w/index.php?curid=27645291

Trung tướng Tsuchihashi Yuitsu, Tư lệnh quân đội Nhật tại Đong Dương – người ra tối hậu thư cho Jean Decoux. Nguồn: By Unknown – http://imperialarmy.blog3.fc2.com/blog-entry-32.html, Public Domain, https://commons.wikimedia.org/w/index.php?curid=27645291

Cuối cùng, ngày 9 tháng 3,1945, Decoux bắt buộc phải từ Đà Lạt xuống hội đàm với Đại sứ Shunichi Matsumoto tại dinh toàn quyền.

Cuộc hội đàm trước sau chưa đầy một tiếng đồng hồ và quân đội Nhật đã xếp đặt trước để lật đổ chính quyền Pháp ở Đông Dương.

Nguyễn Kỳ Nam kết luận:

“Và kể từ ngày 9 tháng 3, nước Pháp đệ tứ cộng hòa không còn đặt Toàn quyền ở Đông Dương nữa.

Decoux là vị toàn quyền chót. Dinh Toàn Quyền xây cất từ năm 1868, đã rước bao nhiêu vị Toàn quyền đến đây cai trị Đông Dương cho đến đêm 9 tháng 3, quân đội Nhật tới bao vây và giữ luôn nhà đại diện tối cao của nước Pháp.

Cuộc hội đàm Decoux-đặc sứ Nhật Matsumoto chấm dứt vào lúc 7 giờ và đặc sứ Nhật rút ở trong túi ra đưa ra tối hậu thư như sau:

“Nghĩ vì sự tiến triển mới đây về tình hình chiến tranh tổng quát, riêng ở Đông Dương máy bay Mỹ không ngớt tấn công liên tiếp: có thể một ngày nào đó quân địch đổ bộ lên Đông Dương, cho nên chính phủ Nhật nhứt định cùng nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương hợp tác phòng thủ chung.

“Chính phủ Nhật yêu cầu Toàn Quyền Đông Dương bày tỏ bằng chứng thiết tha muốn cùng Nhựt hợp tác phòng thủ chung, cho đến cùng, chống lại lực lượng của đồng minh, có thể đổ bộ bất luận lúc nào..

“Cho nên yêu cầu Toàn Quyền Đông Dương:

“Một là trong thời gian của tình thế hiện tại, hải lục không quân và lực lượng cảnh sát võ trang của Đông Dương phải đặt dưới quyền chỉ huy thống nhất của quân đội Nhật mà họ phải hoàn toàn tuân theo.

Hai là, tất cả các công chức ở Đông Dương phải đặt dưới quyền chỉ huy của quân đội Nhật sử dụng bất luận lúc nào.”

Đặc sứ Nhật ra điều kiện phải trả lời tối hậu thư đúng 9 giờ tối.

Đặc sứ Nhật đi rồi, toàn quyền Decoux viết thư tay, rồi sai sĩ quan liên lạc cầm thơ đến Đặc sứ Nhật. Lúc đó là 8 giờ 45. Nhưng phủ toàn quyền đã bị Nhật bao vây rồi.

Đại sứ Nhật coi thư Decoux như một sự từ chối hẳn: thế là súng nổ vào đúng 9 giờ tối.

Decoux và nhiều tướng lãnh bị giam tại phủ Toàn Quyền gần đúng hai tháng. Ngày 7 tháng 4, quân đội Nhật mới đem Decoux lên vườn cao su Lộc Ninh.

Từ nay chấm dứt chế độ thuộc địa.”

(Nguyễn Kỳ Nam, Hồi ký 1925-1945, trang 118-119)

Toàn quyền Đông Dương (1940-1945) Jean Decoux. Nguồn: Plon

Toàn quyền Đông Dương (1940-1945) Jean Decoux. Nguồn: Plon

Cơ đồ xây dựng tám mươi ba năm, trong hai tiếng đồng hồ là sụp đổ hết. Câu hỏi còn lại là Nhật đảo chánh Pháp rồi có trao lại cho Việt Nam hay đảo chánh rồi thay Pháp tiếp tục cai trị Việt Nam?

Câu hỏi này nếu có đặt ra cho Bảo Đại thì chắc Bảo Đại không có câu trả lời! Nay có cơ hội nhìn lại diễn biến mối liên hệ giữa Pháp và Nhật thật có nhiều tròng tréo.

Decoux thừa nhận rằng lực lượng quân sự của ông không đủ mạnh để chống lại Nhật. Nhưng nếu để mất Đông Dương là mất tất cả. Vì thế, Nhật cũng thừa hiểu rằng không thể nào có sự hợp tác chặt chẽ của Decoux đối với Nhật. Nhưng khi tối hậu thư thứ ba mà Nhật đưa ra ép Decoux ký thì Decoux đã phản đối và không ký.

Khi Decoux không đồng ý với những yêu cầu của quân Nhật, Thống chế Pétain tin tưởng vào Decoux sẽ làm gương cho những người Pháp khác.

“When he protested against the agreement with Tokyo, Marshal Pétain wired Decoux that he counted on him” to give an example of discipline to all Frenchmen.”

(Ellen J.Hammer, The Struggle for Indochina, Stanford University Press, California, 1954, trang 21)

Nói chung thì số phận Catroux hay Decoux đều có những điểm chung cuộc mà thời cuộc đã dành cho họ. Sau này Decoux đã tố giác Catroux không có trách nhiệm trong một bài nhan đề: A la Barre de l’Indochine (Paris, 1949), sau đó Catroux cũng đã viết bài phản biện trên tờ Le monde, tháng 9-1949).

Cả hai vị toàn quyền đều cố gắng giữ cho được tình trạng status quo với Nhật như chính họ đã hứa, nhưng cũng không xong.

Chưa kế, thừa dịp này, quân đội Xiêm La cũng đòi chính quyền Pháp trả lại những phần đất mà Xiêm đã chiếm được của Lào và Campuchia và sau đó đã phải nhượng lại cho Pháp. Những thành phần quốc gia cũng đã nổi loạn tại các tỉnh biên giới như Cao Bằng, Lạng Sơn chống lại quân đội Pháp.

Từ tháng 8, 1941, quân đội Nhật đã đổ bộ xuống Sài Gòn và chiếm những vị trí chiến lược ở đây.

Sự o ép, bắt nạt đủ cách của Nhật trên người Pháp cho thấy, người pháp phải chịu nhục nhã như thế nào? Theo trí nhớ thô thiển của tôi lúc nhỏ ở Hà Nội, lính Nhật đã tấn công trại Hành Chánh tài chánh ủa Pháp tại phố Cửa Bắc. Chỉ cần một dúm lính Nhật đủ bắt trọn bộ các sĩ quan Pháp trong trại và bắt đầu hàng ổ chiến đấu phòng vệ chốt trên gác chuông nhà thờ Cửa Bắc, đối diện sở Hành chánh, Tài Chánh độ chừng một tiểu đội. Sau đó dẫn các cấp chỉ huy Pháp, bắt cởi trần chỉ còn cái quần xà lỏn, tay để sau gáy và quỳ trước cửa trại Hành chánh tài chánh trong khi trời khá lạnh.

Việc đảo chánh Nhật đã xảy ra vắn gọn, nhanh chóng trên khắp các tỉnh thành từ Nam ra Bắc. Tất cả 36 căn cứ quân sự, trại lính, cơ sở đều bị Nhật chiếm đoạt mà sự kháng cự đều không đáng kể.

Nguồn: By Unknown - Biblioteque Nationale, Public Domain, https://commons.wikimedia.org/w/index.php?curid=48350416

Tù binh Pháp bị Nhật bắt ở Hà Nội. Nguồn: By Unknown – Biblioteque Nationale, Public Domain, https://commons.wikimedia.org/w/index.php?curid=48350416

Ký giả Pháp Francoise Martin đã kể lại một mẩu tin không biết nên cười hay nên khóc,

“Hai người Pháp đi gần trường bay Gia Lâm vào 8 giờ đêm ngày 9 tháng 3. Lính Nhật bắt và cảnh cáo: Quân lính trong thành nên liệu đầu hàng sớm, nếu không cả hai đều bị xử bắn. Cũng may là quân lính trong thành đã đầu hàng không điều kiện và họ đã được thả ra.”
(Nguyễn Kỳ Nam, ibid., trang 123)

Tôi có cảm tưởng họ bắt người Pháp làm tù binh dễ dàng như lấy một món đồ trong túi. Trong 4 năm, 1941-1945, người Pháp không chuẩn bị một cuộc chiến tranh với Nhật và cố tình ngủ yên với tình trạng Staus quo vẫn được Nhật duy trì.

Họ hoàn toàn không có tinh thần tranh đấu, thà đầu hàng và chịu nhục nhã.

Tất cả những biến cố quân sự, chính trị dồn dập xảy ra như trên, nhưng xem ra về phía Việt Nam, Bảo Đại cho ta có cảm tưởng ông đứng bên ngoài tất cả nhưng âm mưu, những tranh chấp giữa hai kẻ thù địch. Phần ông bình thản và ung dung tự tại, ông viết:

“Các khuấy động của người Nhật ở trong Nam có sự thỏa hiệp của các giáo phái như Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên và nhiều phong trào khác nhau từ năm 1936. Ngoài Bắc có một số trí thức trẻ chạy theo những phong trào tranh đấu bạo động, cực đoan, khuynh đảo.

Nhưng bù lại, phía miền Trung mang tính cách tỉnh lẻ, vẫn bám víu vào truyền thống cổ truyền thường đứng bên ngoài các xáo trộn. Với những người dân quê Việt Nam, những đồng bào miền núi, hầu như căn bản không có gì thay đổi. Tất cả công việc, tất cả bộ máy hành chánh, các công chức như trong quá khứ sống trong một bầu khí an bình và hầu như không hề bị khuấy động bởi sự có mặt của tổng số 25 ngàn binh lính Nhật.

Đường giao thông không bị trục trặc. Sự liên lạc giữa Bắc Nam vẫn bình thường. Khi tôi và hoàng hậu di chuyển đi đâu vẫn không cần có hộ tống. Đường giao thông an toàn cả ban ngày lẫn ban đêm. Chính vì lái xe ban đêm từ Sài Gòn lên Đà Lạt mà bà toàn quyền Decoux đã gặp tai nạn xe cộ. (…) Ngoài những trận dội bom của quân đồng minh do Mỹ cầm đầu mỗi ngày mỗi gia tăng ở phía bờ biển các vùng miền Trung và Bắc Việt, mọi chuyện như vẫn bình thường như không có gì xảy ra cả.”

(S.M. Bao Daï, ibid., trang 98)

Tình trạng bình thường dưới mắt Bảo Đại là cái bình thường không bình thường của một lò lửa chiến tranh sôi sục, của giấc mộng Đại Đông Á của Nhật cũng như sự le lói sự xuất hiện chủ nghĩa Mác Xít tại miền Nam.

Và câu trích dẫn sau đây thể hiện trọn vẹn cá tinh, con người thật của Bảo Đại.

“Tenu à l’écart de toutes les décisions importantes, je conserve l’attitude que j’avais adopté dès le début de mon règne.”
(S.M. Bao Daï, ibid., trang 98).

“Bị đặt ra ngoài trước mọi quyết định quan trọng, tôi giữ thái độ mà tôi đã áp dụng ngay từ khi lên ngôi.”

Thái độ đó là thái độ mặc kệ; ông say mê vào việc lái chiếc máy bay mới giao sau khi ông có bằng lái máy bay. Cuối tuần lại tiếp tục đi săn. Chưa có một người lãnh đạo đất nước nào tỏ ra thờ ơ, lãnh đạm như Bảo Đại.

Phần liên quan đến vai trò làm vua của Bảo Đại cho đến lúc này, thật khó để tìm ra được một vai trò tích cực nào của nhà vua trước những biến động lịch sử làm thay đổi bộ mặt đất nước.

Cả một chế độ phong kiến sụp đổ như những lâu đài xây dựng trên cát, biến dạng sau hàng ngàn năm. Rồi cả một chế độ thực dân tưởng chừng vững chắc và tồn tại miên viễn cũng tan ra mây khói.

Vậy mà Bảo Đại vẫn bình chân như vại.

Xin ghi lại một vài cảnh tượng chót của biến động lịch sử trước khi toàn bộ Đông Dương thay ngôi đổi chủ. Chiến tranh thế giới thứ hai và chiến tranh giữa Nhật và Pháp đã thay đổi bộ mặt Việt Nam. Có một bộ mặt của người Annam cũ rơi rớt lại từ thời Pháp thuộc qua các nhân viên quan chức làm việc cho Pháp. Cũng có một bộ mặt mới của các xu hướng chính trị đảng phái, các giáo phái và nhất là của các nhóm cộng sản đệ tam.

Chính cái bộ mặt thứ hai này sẽ quyết định vận mạng chính trị cho Việt Nam. Bảo Đại vẫn bình chân như vại có biết đâu rằng địch đã gài người ngay trong cung cấm: Vai trò Phạm Khắc Hòe, Tổng lý ngự tiền văn phòng đã theo dõi từng động thái một, từ tính nết con người, đến việc chi phối, hăm dọa vào phút chót đưa đến việc thoái vị của Bảo Đại. Sau này, nhiều sự việc bê bối của Bảo Đại đều do sự tiết lộ của Phạm Khắc Hòe tung ra bên ngoài.

(Còn tiếp)


Nguyễn Văn Lục

Nguồn: DCVOnline

05 Tháng Mười 2018(Xem: 242)
Chú thật là thương, thương ông nội vô cùng. Chú không còn thấy nhớ nhà mà lại thích được ở đây cùng ông nội hàng ngày tụng kinh lễ Phật.
28 Tháng Chín 2018(Xem: 350)
Thế là sau mấy ngày suy nghĩ, ba chú đồng ý đem con lên chùa làm thị giả cho ông nội. Chú Thảo rời gia đình từ lúc đó.
28 Tháng Chín 2018(Xem: 172)
*Xin bấm vào phần Youtube bên dưới để thưởng thức: MÙA THU TÔI VÀ EM - Nhạc Phạm Chinh Đông. Khánh Minh trình bày.
28 Tháng Chín 2018(Xem: 180)
Nhớ về kỷ niệm, anh miên man mơ tưởng lại thời cắp sách đến trường, rong chơi bè bạn, run rẩy khi chợt thốt ra lời tỏ tình vụng dại với cô bạn ngày xưa, anh chợt mỉm cười.
22 Tháng Chín 2018(Xem: 365)
Xin trân trọng giới thiệu tập thơ "NGUỒN THẬT" của tác giả Phong Châu. Một chàng rể khóa 5 của Ngô Quyền chúng ta.
15 Tháng Chín 2018(Xem: 431)
. Văn hóa VN mới sẽ bắt đầu lại từ những đứa bé học những hình vuông, hình tròn, hình tam giác hôm nay sao? Thật là đau lòng cho chữ Việt.
07 Tháng Chín 2018(Xem: 383)
*Xin bấm vào phần audio bên dưới để thưởng thức: MÙA HÈ TÔI VÀ EM - Nhạc Phạm Chinh Đông – Ca Sĩ: Hương Giang
26 Tháng Tám 2018(Xem: 633)
Rồi cũng sẽ có một ngày, vào lễ Vu Lan, con cháu sẽ quỳ xuống như ta bây giờ mà cầu nguyện cho ta. Lúc ấy trong tâm tưởng chúng, tất cả những gì tốt hay xấu mà ta đã làm sẽ hiện
25 Tháng Tám 2018(Xem: 395)
Dương Thiệu Tước tuy không còn nữa nhưng những Đêm tàn Bến Ngự, Tiếng Xưa vẫn là những viên ngọc quý, ..
23 Tháng Tám 2018(Xem: 1452)
Bài viết sau đây chỉ là kinh nghiệm của chính tôi khi làm khải đạo tâm thần, cá nhân, và hướng nghiệp tại thành phố Portland thuộc tiểu bang Oregon trong khoảng thời gian từ năm 1978 tới năm 2007.
12 Tháng Tám 2018(Xem: 529)
Suy từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, người tài hoa là người bạc mệnh, kẻ hồng nhan thường đa truân. Nhìn vào làng nhạc nước ta, nhạc sĩ Đặng Thế Phong là điển hình rõ nét nhất.
07 Tháng Tám 2018(Xem: 512)
Với tôi, giá trị tư tưởng lớn nhất của Tác Phẩm “Có Một Thời Nhân Chứng” của nhà văn Lê Lạc Giao chính là cách Ông đặt lại vấn đề: “Nạn Nhân hay Nhân Chứng”
07 Tháng Tám 2018(Xem: 1015)
Đời là cõi tạm không dài Thế nên sống trọn kiếp này... an nhiên Trần ai, tan hợp muộn phiền Nên đừng gieo nghiệp, gieo duyên mặn nồng
04 Tháng Tám 2018(Xem: 712)
Những nốt nhạc vui đã vang lên trong lòng mỗi chúng ta. Hãy hòa lời ca để bản hợp ca NQ bay lên cao, vang rộng và ý nghĩa nhất.
21 Tháng Bảy 2018(Xem: 1108)
Cuộc đời gió thoảng, mây bay Tri ân trân trọng cô thầy hôm nay. Bụi phấn theo gió tung bay Lời thầy dạy dỗ giữ hoài trong tim.
15 Tháng Bảy 2018(Xem: 825)
Chiến thắng World Cup 2018 của Le Coq Gaulois chẳng những làm cho người tuổi trẻ ở Pháp có một giấc mơ về tương lai như Mbappé đã từng ấp ủ giấc mơ của mình năm anh 6 tuổi
15 Tháng Bảy 2018(Xem: 844)
Tựa: Mùa Xuân Tôi Và Em Nhạc: Phạm Chinh Đông Ca sĩ: Khánh Minh
14 Tháng Bảy 2018(Xem: 1138)
Chánh Niệm được xem như là cội nguồn, là gốc rễ để Tâm được an tịnh. Khi tâm an thì thân khoẻ và trí tuệ sáng suốt hơn.