Danh mục
TIN TỨC MỚI
13 Tháng Bảy 2018
Đây là tổng hợp các danh sách Mạnh Thường Quân từ năm 2016 đến 2018 được cập nhật đến ngày 14 tháng 07, 2018
14 Tháng Mười 2016
Bộ sưu tập Bài Viết, Video, Hình ảnh của Thầy Hiệu trưởng Phạm Đức Bảo
16 Tháng Bảy 2015
VIDEO Đài FreeVN.net - 2 giờ 15 phút : NGÔ QUYỀN HỌP MẶT TRUYỀN THỐNG 2015
16 Tháng Bảy 2018
Sau 63 trận đấu, World Cup 2018 chính thức bước vào trận chung kết đầy sôi nổi và đội tuyển Pháp "thắng lớn" đè bẹp đội tuyển Croatia tỷ số kỷ lục 4:2.
15 Tháng Bảy 2018
Chiến thắng World Cup 2018 của Le Coq Gaulois chẳng những làm cho người tuổi trẻ ở Pháp có một giấc mơ về tương lai như Mbappé đã từng ấp ủ giấc mơ của mình năm anh 6 tuổi
15 Tháng Bảy 2018
Họp mặt là vui. Gặp được thầy cô, bạn bè là điều hạnh phúc. Được quây quần bên nhau một ngày, hai ngày là tuyệt nhất trên đời trong một năm.
15 Tháng Bảy 2018
Tựa: Mùa Xuân Tôi Và Em Nhạc: Phạm Chinh Đông Ca sĩ: Khánh Minh
14 Tháng Bảy 2018
Thầy trò Ngô Quyền đã đến với nhau trong ngày hậu Ngô Quyền không hẹn trước, biết bao niềm vui ngập tràn trong ký ức không thể nào quên.
14 Tháng Bảy 2018
Xin cám ơn mọi người còn thương tưởng đến bạn Đinh Thiên Thọ, CHS khóa 8 trung học NQ BH. Cựu SVSQ. TB. TĐ. Phật tử Tuệ Tịnh...
14 Tháng Bảy 2018
Chánh Niệm được xem như là cội nguồn, là gốc rễ để Tâm được an tịnh. Khi tâm an thì thân khoẻ và trí tuệ sáng suốt hơn.
13 Tháng Bảy 2018
Giữ lòng trọn nghĩa không phai Em mòn mỏi sống trần ai lạnh lùng Chữ Sinh, Tử kiếp hư không Ôm bao nhung nhớ, mặc dòng lệ rơi.
13 Tháng Bảy 2018
Mùa Hè tháng bảy lạ thường, Mưa rơi như trút ngập đường ta đi. Nhìn trời u ám buồn chi, Không gian vắng lặng, lòng thì bơ vơ.
13 Tháng Bảy 2018
Ta về, xa lắm Ấn Độ ơi! Dẫu Ta với Ấn chung một bầu trời, Không hẹn, biết ngày nào gặp lại? “Tình nầy”, xin giữ mãi đừng phai.
Số lượt truy cập
4,714,592

GS. Nguyễn Văn Lục - Thực dân và dân thuộc địa nhìn vào nhau (6a - phần 1)

12 Tháng Năm 201612:51 CH(Xem: 3545)
GS. Nguyễn Văn Lục - Thực dân và dân thuộc địa nhìn vào nhau (6a - phần 1)

Thực dân và dân thuộc địa nhìn vào nhau (6a - phần 1)


Goscha_IndochineOuVietnam-362x500Tựa đề bài thứ sáu này của tôi trong chủ đề “Sử Việt nhìn lại” đặt ra một thách thức khá lớn cho người cầm bút: Có thể nào có được một tinh thần vô tư, khách quan khi viết về giai đoạn thời Pháp đô hộ Việt Nam?

Sử Việt nhìn lại | Thực dân và dân thuộc địa nhìn vào nhau

Viết mà vượt lên trên được những cái thường tình của lòng tự ái dân tộc, vấn đề tôn giáo như việc sát hại một số thừa sai cũng như sự sát hại giáo dân, tình tự lúc nào cũng cho là ta giỏi, ta nhất.

Nhưng riêng bài này tôi nghĩ người đọc cần trang bị một chút hiểu biết tối thiểu về tâm lý – tâm lý quần chúng, tâm lý xã hội, văn hóa, cá tính con người Việt Nam – phản ứng của con người ấy trước những biến động lịch sử.

Tôi cũng cạn nghĩ, người học sử muốn nắm vững bộ môn của mình thì cũng cần có kiến thức của nhiều ngành nghề khác và một quan điểm sử học nhờ thế sàng lọc và nắm được cái cốt lõi của sử?

Qua những kinh nghiệm của lịch sử dân tộc, cá nhân tôi chọn hướng đi đặt nhu cầu phát triển ưu tiên, trước cả độc lập, bởi vì đất nước có phát triển thì sẽ hùng mạnh và trước sau gì cũng dành được độc lập. Còn dành được độc lập mà đất nước nghèo đói thì chưa biết bao giờ mới được phát triển? Hơn nữa, lịch sử thế giới cho thấy “chiếm thuộc địa” và “dành độc lập” chỉ là những phong trào ngắn hạn trước thế chiến thứ II.

Nguyên tắc chỉ đạo này giúp giải quyết những chọn lựa xem ra khó khăn mà thật sự cần thiết phải chọn lựa như thế – như một giải pháp không có giải pháp nào khác.

Tôi liên tưởng đến chữ dùng của giáo sư sử học Nguyễn Phương – ông gọi lịch sử có cái Đà Lịch sử. Nghĩa là có một hướng đi, một dòng lịch sử mà muốn sống còn, ta phải trôi theo cái dòng ấy để đừng bị hất ra bên lề lịch sử.

Trôi theo đà lịch sử cũng chính là cơ hội để con người có thể làm được lịch sử hay không.

Vì thế, theo tôi, nếu chúng ta biết khiêm tốn, biết tự trọng, chịu học hỏi nhiều nguồn trông ra bên ngoài. Có một thứ không thể thiếu được – đó là tính chất flexibility – dịch ra đủ thứ kiểu như tính năng động, tính uyển chuyển, sự thích ứng, soft power hay smart power, và bỏ được tinh thần tự ái dân tộc, óc kỳ thị tôn giáo, chủ nghĩa sô vanh dân tộc, thì sử vẫn là người thầy tốt nhất cho mỗi chúng ta.

Trình độ dân chúng của dân tộc chúng ta nói chung còn thấp kém ngay cả hàng vua quan. Cái học từ chương rỗng ruột là một thứ xa hoa. Nhất là sự cứng đầu, tự cao không nhận biết ra đâu sự thật nên đã gặp rất nhiều thất bại. Đà lịch sử cũng cống hiến những cơ hội thuận tiện, nhiều cơ hội làm nên chuyện. Nhưng tiếc thay cơ may đã bị bỏ qua vì cố chấp chỉ vì thiếu cái flexibility.

Chúng ta thử chiêm nghiệm trong bài học sử này xem những nhận xét ở trên có đúng vậy không?

Xưa ta có câu ca dao:

“Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.”

Khéo và vụng ở đây – theo văn mạch – là nói về phương diện đạo đức cá nhân. Còn về mặt chính trị thì lại khác. Vua quan – giới lãnh đạo của người dân – khéo đã chẳng có mà vụng thì lại nhiều, tất nhiên phải chìm thôi.

Tôi xin đưa ra hai tỉ dụ dẫn chứng mà tôi đã từng dẫn chứng và nếu cần sẽ còn dẫn chứng để chúng ta cùng suy nghĩ, chiêm nghiệm xem sao:

Nguồn: Paulus Huình Tịnh Của

Nguồn: Huình-Tịnh Paulus Của, 1895

Việc thứ nhất là việc cố đạo Alexandre De Rhodes là người đầu tiên xuất bản bằng Việt Ngữ các sách như Tự điển Việt-Bồ-La; Ngữ Pháp tiếng Việt, Phép giảng 8 ngày đặt nền tảng cho việc định hình và phát triển chữ quốc ngữ cho đến ngày nay. Nếu nói về mặt ngôn ngữ – cho dù chúng ta đã dành được độc lập mà vẫn là dân ‘vô học’. Mù chữ là có chữ mà không học. Còn vô học là chữ không có thì học ở chỗ nào? Muốn ký một văn kiện, một hiệp ước, muốn sáng tác văn chương, người Việt Nam vẫn vay mượn chữ Hán. Chữ Nôm do ta sáng chế ra chỉ thêm rách việc – khó hơn chữ Hán, và phải hiểu chữ Hán mới học được chữ Nôm.

Vì thế, ngày nay dù văn học Hán Nôm có phong phú cách mấy đi nữa, 99.99% người dân không đọc được. Dân không đọc được thì giữ làm gì? Ngày nay, người ta ghi nhận được một cách chính xác hơn là có một số giáo sĩ phương Tây như Francisco de Pina, Gaspar de Amaral, Antonio Barbosa đến truyền giáo ở Quy Nhơn, tại khu nước mặn – một vùng địa lý hẻo lánh – lại là nơi xuất phát một công trình tập thể vô giá cho ra đời chữ Quốc ngữ. Thật ra, các giáo sĩ này chỉ lặp lại một công trình ghi âm hóa mẫu tự La Tinh đã được toàn thể các nước Âu Châu áp dụng đồng loạt trong mấy thế kỷ trước đây. Tất cả các nước Âu Châu đều xử dụng mẫu tự La Tinh. Các nhà truyền giáo cũng đã toan tính làm điều này khi đến truyền giáo tại lục địa Trung Hoa. Nhưng công viêc đã không thành. Vì tiếng Hán vẫn nắm ưu thế.

Cái thất bại của giới truyền đạo ở Trung Hoa lại là cái may của họ khi đến Việt Nam. Một công trình mà lúc ban đầu chỉ nhằm để truyền đạo đi nữa thì nó vẫn là một di sản có một không hai. Ngay chính những thừa sai kể trên làm sao nhìn thấy hết được cái lợi ích của nó đối với đời sau? Nhưng cái chính yếu là tài sản ấy đã được A. De Rhodes hệ thống hóa bằng văn bản, bằng tự điển – hẳn ông là người đại diện chính đáng nhất? Sự mẫu tự hóa (Romanisation/Latinization) chữ viết bằng mẫu tự tiếng La Tinh, nói thì thật đơn giản và dễ dàng, nhưng nghĩ ra được như thế cho tiếng Việt thì quả là công trình duy nhất trên toàn vùng Viễn Đông này. Nhìn xem các nước lân bang thông minh và tài giỏi như Nhật Bản, Triều Tiên, vẫn bằng lòng với thứ ngôn ngữ ký hiệu (Idéogramme). Hoặc là các chữ ngoằn ngoèo của thế giới Ả Rập hoặc ngôn ngữ Thái, v.v. Các công trình của ông sau đó đã lần lượt được in ra băng tiếng Ý, tiếng Pháp và tiếng La Tinh. Cả những người sáng lập ra lúc ban đầu và người làm ra tự điển – họ đều không hề nghĩ đến chuyện dành công? Tại sao người đời sau lại muốn làm chuyện ấy? Tại sao còn có loại người ‘ngu dần’ không muốn nhìn nhận công trình ấy? Sáng lập là câu chuyện của thiên tài, còn hoàn chỉnh là công việc của chúng ta. Alexandre De Rhodes, nào chỉ có làm tự điển. Có thể nói ông là người đầu tiên giới thiệu Đông Dương cho thế giới bên ngoài với các tác phẩm: L’Histoire du Royaume du Tonkin (1651), les Relations des progrès de la foi au Royaume de la Cochinchine (1652) và nhất là Voyages et Missions (1653).

Xét về mặt văn hóa, gần 1500 cử nhân, tiến sĩ trong suốt triều Nguyễn, ngoài chuyện làm thơ phú, đã có ông nào sáng tạo được cái gì? Hay vẫn cứ ngồi ê a chữ Hán trong nỗi bất lực trước những biến động thời cuộc.

Đụng tới khó thì cáo quan lui về ở ẩn, giữ khí tiết, vui thú điền viên như cụ Tam Nguyên Yên Đổ. Nói theo trách nhiệm xã hội dân sự ngày nay thì đó là vô trách nhiệm tập thể!

Tranh mộc bản của Henri Oger . Nếu không có chữ dùng mẫu tự La ting tì ngày nay mấy người Việt Nam hiểu được?. NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN  Từ trái qua phải:  1. Vớt bèo ở ao / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Vớt bèo)  2. Hái sen / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Hái hoa sen)  3. Chặt buồng chuối / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Cắt chuối)  4. Hái vải / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Cặp bẻ vải)  5. Tìm trứng chim / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Bắt chim khách)  6. Hái ổi / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Trẩy quả ổi)

Tranh mộc bản của Henri Oger . Nếu không có chữ dùng mẫu tự La tinh thì ngày nay mấy người Việt Nam hiểu được? 
Từ trái qua phải:
1. Vớt bèo ở ao / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Vớt bèo)
2. Hái sen / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Hái hoa sen)
3. Chặt buồng chuối / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Cắt chuối)
4. Hái vải / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Cặp bẻ vải)
5. Tìm trứng chim / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Bắt chim khách)
6. Hái ổi / (Chú thích chữ Hán-Nôm: Trẩy quả ổi)

Trong khi đó, tôi không biết những nguời như ông Huỳnh Tịnh Của (Paulus Của), Trương Vĩnh Ký (Petrus Ký), Trương Minh Ký đỗ bằng cấp gì mà viết thông thạo chữ Hán, chữ La Tinh, chữ Pháp. Và còn nằm trong danh sách các tác giả viết bằng tiếng Tây của Pháp. Paulus Của viết loại Récits anecdotiques, viết về Pédagogie.

Trương Vĩnh Ký học ở Penang viết về sử, về ngôn ngữ học, v.v.

Trương Minh Ngôn, tự là Trương Minh Ký, cháu của Trương Minh Giảng, dạy học, viết báo, viết về ngôn ngữ học.

Họ đều xuất thân là dân Nam Kỳ.

Tôi xin trích dẵn nhận xét của giáo sư Jean-Pierre Duteil, tác gi cuốn La Première implantation Francaise en Inbdochine về hai nhân vật nổi bật nhất, một về mặt văn hóa, một về mặt chính trị của người Pháp ở Việt Nam như sau:

“D’Alexandre De Rhodes à Mgr Pigneau De Béhaine, nombreux furent les missionnaires francais à parcourir les royaumes d’Indochine: pourchassés ici, recus comme conseillers ailleurs, ces hommes d’exception ne se contentèrent pas de convertir et d’Évangélỉser les populations: soutenus par les Misions étrangères de Paris, ils jouèrent un important rôle diplomatique, notamment auprès des Nguyên.”(1)

Từ Alexandre De Rhodes đến giám mục Pigneau de Béhaine, họ nằm trong số những nhà truyền giáo Pháp mà hành trình truyền giáo của họ trải dài trên các vương quốc Đông Dương. Họ đã bị trục xuất khỏi nơi này, nhưng rồi lại được đón nhận ở nơi khác như những cố vấn. Những con người ngoại lệ này không chỉ bằng lòng với công việc rao truyền phúc âm và đưa người ta vào đạo. Được sự hỗ trợ của sứ bộ thừa sai Pháp ở Paris, họ đã đóng một vai trò ngoại giao quan trọng bên cạnh các vua triều Nguyễn.

Để chấm dứt phần tìm hiểu về Alexandre De Rhodes, chúng tôi xin đưa ra một nghi vấn lịch sử đã một thời gây tranh cãi không nhỏ, xuất phát từ những tinh thần đố kỵ tôn giáo, trong giới sử học. Đó là câu của A. De Rhodes viết trong Hành Trình và Truyền giáo như sau:

“J’ai cru que la France, étant le plus pieux royaume de monde, me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conquête de tout l’Orient, pour l’asujetter à Jessus Christ, et particulièrement que j’y trouverais moyen d’avoir des Évêques, qui fussent nos pères et nos Maitres en ces Esglises. Je suis sorti de Rome à ce dessein le 11e Septembre de l’année 1652 apres avois baisé les pieds du Pape.”(2)

Tôi tin rằng Pháp là nước ngoan đạo nhất thế giới, sẽ cung cấp cho tôi nhiều chiến sĩ để đi chinh phục toàn thể phương Đông, cũng như ở đó, tôi có thể có cách để có nhiều giám mục vốn là Cha và các Thầy của chúng ta ở trong các nhà thờ. Tôi rời La Mã ngày 11 tháng 9 năm 1652 với ý định đó.

Tất cả rắc rối nó nằm trong chữ “soldats”. Tác giả Hồng Nhuệ, dịch giả bộ sách của Đắc Lộ dịch là “chiến sĩ” để chỉ các nhà truyền giáo.(3)

Cao Huy Thuần, tác giả cuốn Đạo Thiên Chúa và Chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam, vốn là Tổng thư ký tờ Lập Trường ở ngoài Huế năm 1964. Trong luận án tiến sĩ của ông, ông dịch là binh sĩ. Và chỉ với hai chữ này trở thành luận cứ thuyết phục cho luận án của ông. Theo đó, Vatican, các nhà truyền giáo và chính quyền Pháp âm mưu xâm lược Việt Nam.

Sau này, nhóm Giao Điểm đã cho xuất bản một cuốn sách nhan đề với âm mưu tố cáo: A. De Rhodes – Người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam – Và chữ Quốc ngữ.

Dịch là “chiến sĩ” thì có thể hiểu đây là gửi các linh mục. Dịch là “binh sĩ” thì phải hiểu là gửi lính sang xâm chiếm Việt Nam.

Bây giờ, nếu ta xét về mặt lịch sử: thời điểm 1652 chỉ mới có sự giao thiệp buôn bán giữa Đông và Tây. Khái niệm thuộc địa chưa rõ, chưa hình thành. Vậy không có lý nào Đắc Lộ lại có thể xin gửi “binh sĩ” sang Việt Nam.

Hai giáo sĩ của Hội Thừa sai Hải ngoại Paris (MEP): Mgr François Pallu (1626-84). Bên phải: GM Tổng đại diện Nam Kỳ Pierre Lambert de la Motte (1624-1679)

Hai giáo sĩ của Hội Thừa sai Hải ngoại Paris (MEP): Mgr François Pallu (1626-84). Bên phải: GM Tổng đại diện Nam Kỳ Pierre Lambert de la Motte (1624-1679)

Xét về mặt văn bản, ngữ nghĩa: Khi nói nước Pháp ngoan đạo nhất thế giới thì cung cấp “giáo sĩ” chứ ngoan đạo liên quan gì đến “binh sĩ”? Từ “chinh phục” chỉ thị chinh phục tâm hồn, nếu không dùng chữ đi “chinh phạt” sát nghĩa hơn. Dưới đó cho thấy có các linh mục rồi nên mới cần nhiều giám mục. Nếu gửi binh lính thì cần giám mục làm gi? Cần sĩ quan để cai quản chứ? Đọc toàn bộ văn bản cho thấy chữ “soldats” ở đây không thể hiểu là “binh lính” được. Nó không có nghĩa và trái với nội dung toàn văn bản.

Trước đoạn trích dẫn trên, Đắc Lộ còn bày tỏ nhiều câu ám chỉ về việc tuyển mộ các chiến sĩ này. Ông viết, “Tôi nhận được vô vàn thư của các cha Dòng chúng tôi, tự nguyện xung phong trong đoàn binh vinh quang. Tất cả năm tỉnh dòng ở Pháp đều có nhiều người quảng đại ghi tên […]

Những người tình nguyện ghi tên trong đoàn binh này đều là các thừa sai, có chỗ nào chỉ đoàn binh này là binh sĩ đâu?

Ông viết tiếp,

“Những dự định của chúng tôi đâu đã hoàn tất: có mấy nhân vật danh tiêng và đạo đức ở Paris đang vận động để cung cấp các giám mục cho chúng tôi. Chúng tôi mong Rôma sớm cho chúng tôi biết tin rất vui mừng này… Các Ngài giáo sĩ cao cấp đã tận tâm nhận tra xét hồ sơ của chúng tôi và đã đệ đơn lên Đức Giáo Hoàng đại khái nói: Các giám mục Pháp có đủ nhiệt tâm đem phúc âm tới cùng kiệt đại dương, để soi cho biết bao dân tộc còn sống trong tăm tối…(4)

Và chỉ 6 năm sau, 1658, nguyện vọng của Đắc Lộ gửi đoàn binh sĩ sang truyền giáo ở các nước đã hình thành. Sứ bộ truyền giáo Paris đã chính thức hoạt dộng.

Nghĩ lại chuyện này cho thấy sự xuyên tạc lịch sử thật nham hiểm. Ai đo được lòng dạ con người?

Và nếu “chiến sĩ” là để chỉ các “thừa sai” thì sự thuyết phục của luận án của Cao Huy Thuần là chỗ nào?

Vậy mà vẫn có những thành phần cố chấp, chủ nghĩa dân tộc ‘Sô Vanh’ như Nguyễn Đắc Xuân ngoài Huế lên tiếng phản biện.(5)

Theo Nguyễn Đắc Xuân,

“Alexandre De Rhodes đã và đang bị các nhà sử học trong và ngoài nước chứng minh rằng đấy là một trong những đầu mối thúc đẩy thực dân Pháp vào cướp nước ta.”

Gán việc sáng chế ra chữ Quốc Ngữ là khởi điểm cho việc Pháp xâm lăng nước ta là tột điểm của sự vu khống ngu xuẩn!

“Các nhà sử học trong và ngoài nước” là những ai? Tại sao không liệt kê danh tính họ ra? Nguyễn Đắc Xuân cứ khoác lác như chỗ không người như vậy!

Hãy cứ để những kẻ ngu xuẩn như thế tiếp tục nghĩ như thế và sống như thế. Tôi chỉ tự hỏi Nguyễn Đắc Xuân ngày hôm nay đang đọc và viết bằng thứ chữ gì?

Việc thứ hai là vai trò của Bá Đa Lộc và những người Pháp giúp Gia Long khởi nghiệp. Có hai quan diểm đánh giá.

Sách vở tài liệu của Pháp qua những thư từ của các thừa sai, nhất là tài liệu trong “Đô thành Hiếu cổ”, Bulletin des Amis du Vieux Huế (BAVH), của Cadière thì đều dành một vị trí vinh dự cho giám mục Bá Đa Lộc. Về phía các sử gia Việt Nam thì cũng hầu hết đồng quan điểm như vậy như Việt Nam Sử Lược của Trân Trọng Kim, Phan Khoang, Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Khắc Ngữ, nhất là Tạ Chí Đại Trường.

Dĩ nhiên không phải chỉ vì hầu hết các sử gia đều đồng ý với nhau thì chúng ta cũng phải đồng ý. Không phải như vậy.

Mới đây tác giả Thụy Khuê trong một tài liệu nhan đề “Khảo sát công trạng của những người Pháp giúp vua Gia Long” trong đó bà hầu như phản bác tất cả các quan điểm trên bằng nhiều tài liệu dẫn chứng. Vì thế, tôi đón nhận tập biên khảo của bà Thụy Khuê một cách trân trọng.

Về phần này vì khá dài, chúng tôi xin hẹn ở một bài viết riêng trong kỳ sau.

Khi tìm hiểu về mối tương quan giữa kẻ đi chinh phục và kẻ bị trị thì có thể có hai khảo hướng để tìm hiểu về xã hội Việt Nam giai đoạn bị trị.

Tác giả Nguyễn Văn Phong, tác giả cuốn La société Vietnamienne de 1882 à 1902, d’apres les écrits des auteurs francais, Paris, Presses Universitaires de France, 1971, chia các tác giả Pháp, theo ngành nghề, ra làm 9 khảo hướng tìm hiểu tùy theo chuyên ngành. Chẳng hạn Charles Lemire viết về ngành hành chánh, luật pháp. Ellacine Luro về quân sự, Jules Boissière về văn chương, Eugène Louvet và Paul Puginier như những nhà truyền giáo, J. Milton Yersin như một bác sĩ, v.v. Sự chuyên biệt như thế giúp cho sự nghiên cứu về Việt Nam đầy đủ và phong phú hơn.

Phần người viết, tôi chỉ đơn giản phân ra hai loại người: thực dân Pháp và kẻ bị trị, người Việt Nam, để xem sự trao đổi giữa hai bên như thế nào. Và như đã giới thiệu ở đầu bài, tôi chú trọng đến những phần ứng dụng dựa trên khoa tâm sinh lý cũng như văn hóa của người Việt để đưa ra các nhận xét hay tìm hiểu.

(còn tiếp)

Nguyễn Văn Lục

Nguồn: DCVOnline

08 Tháng Bảy 2018(Xem: 544)
Chúng em vô cùng tri ân sự tận tình giúp đỡ, nhắc nhở và khuyến khích của các thầy cô, các mạnh thường quân và tất cả các anh chị em chs Ngô Quyền
08 Tháng Bảy 2018(Xem: 186)
...có vườn hoa của Mẹ và giàn thiên lý thơm lừng và nhất là thèm mãi bát canh cua đồng ngọt ngào của Mẹ ngày xưa mà giờ đây chỉ còn lại trong dĩ vãng.
03 Tháng Bảy 2018(Xem: 402)
Bài này được viết ra và ghi lại trong bầu không khí đặc biệt bàn luận sôi nổi giữa những fans túc cầu của Đại Gia Đình Ngô Quyền trong suốt đại hội.
03 Tháng Bảy 2018(Xem: 444)
Đại hội trường ta năm nào cũng để lại nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Năm nay ngày đại hội được các thầy cô về rất đông vui cùng học trò. Những tà áo dài trắng làm đẹp thêm sân trường và gợi nhớ biết bao kỷ niệm.
02 Tháng Bảy 2018(Xem: 605)
*Xin bấm vào phần Youtube bên dưới để thưởng thức: ĐƯỜNG CHIỀU - Nhạc sĩ Dương Hồng Duyệt - Ca sĩ Duy Khánh Patrice Trần thực hiện youtube
29 Tháng Sáu 2018(Xem: 256)
Miệng vừa cắn củ khoai lang luộc, thằng Tèo chịu hết nổi! Nó quạo quọ một cách... đáng thương, nói với thằng Lìn là sao đưa người tới đây nhiều nên xài đống cây vụn... mau hết quá!!
23 Tháng Sáu 2018(Xem: 279)
. Thứ súng cây này thời bây giờ tụi nhỏ chắc không biết đến đâu, nhưng vào thời đó là món đồ chơi giá trị vào những ngày tháng cuối năm, Tết sắp đến... .
18 Tháng Sáu 2018(Xem: 286)
Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày “Từ Phụ”. Thục Vũ nghĩ mãi, cố gắng tìm một món quà nào thật qúy giá để tặng Bố, Bố rất giản dị, Bố không thích quà cáp tốn tiền.
17 Tháng Sáu 2018(Xem: 364)
Tới đây, tôi rất vui mừng loan tin là quyển Ngô Quyền Toàn tập của chúng mình đã được trịnh trọng đem vào nhà in rồi. Nhóm thực hiện sau bao nhiêu đêm thức khuya dậy sớm
17 Tháng Sáu 2018(Xem: 1284)
Tháng 6 có nước mắt của những người con mất Cha, ngậm ngùi săm soi gót chân mình xem đã lấm bùn từ lúc nào, từ ngày 30 tháng 4, hay từ ngày thân phụ khuất bóng?
19 Tháng Năm 2018(Xem: 625)
Thầy đang mong mỏi từng ngày để được hưởng niềm vui tương ngộ vào tháng 7 sắp tới. Đó là niềm hạnh phúc của một người Thầy đã giã từ bục giảng ...
19 Tháng Năm 2018(Xem: 663)
.... lòng nhân đạo và tri ân của con người. Thật là đáng quý. Cuộc sống vẫn rất đẹp nếu ta biết mở rộng tâm hồn để nhìn về mọi phía với sự lạc quan.
19 Tháng Năm 2018(Xem: 516)
Cảm ơn thi sĩ về Ánh sáng Ngôn ngữ một lần trong “xứ sở chiêm bao”, qua đó con đường cổ tích đi đến xứ chiêm bao ấy được khơi mở ra cho những ai có tâm và có sự chuẩn bị trước để bước vào.
19 Tháng Năm 2018(Xem: 416)
Tôi chỉ đơn thuần viết những cảm nghĩ chân thật của mình về cơ hội được biết anh và cám ơn anh đã gửi cho tôi những bài thơ tuyệt vời
13 Tháng Năm 2018(Xem: 621)
"Lễ Mẹ" tháng năm đã về rồi Con buồn nhớ Má lệ thầm rơi Ví dầu con có bao nhiêu tuổi. "Mồ côi" con má vẫn ngậm ngùi.
27 Tháng Tư 2018(Xem: 555)
*Xin bấm vào phần Youtube bên dưới để thưởng thức: LIÊN KHÚC SÀI GÒN NIỀM NHỚ KHÔNG TÊN - Tưởng Niệm 30-4-1975 Kiều Oanh thực hiện youtube
14 Tháng Tư 2018(Xem: 691)
Bao năm lưu lạc xứ nguời, tôi đã có lần cuối cùng thăm lại xóm Lò Lu của Xã Hóa an, nhìn lại con đường từ ngã tư xuống bên đò, lòng tôi như se lại.
08 Tháng Tư 2018(Xem: 675)
Tôi thầm cám ơn các nhà thơ đã trang trải tâm tình về quê hương xứ Bưởi và được anh Bằng Giang chấp cánh bằng những dòng nhạc dịu êm,
24 Tháng Ba 2018(Xem: 785)
Một kỷ niệm nhỏ của nhà thơ Trần Mộng Tú thời còn là một “nữ sinh Lớp Tám” cho chúng ta thấy tư cách của một thầy giáo và lòng tôn kính của phụ huynh học sinh đối với thầy,
18 Tháng Ba 2018(Xem: 1171)
...nơi những vị Bồ Tát như Ngài chắc chắn biết rõ mình sẽ đi đâu, sẽ làm gì, như Phật đã và sẽ tiếp tục làm để cứu độ chúng sanh ở cõi trần còn nhiều khổ đau và phiền lụy này.