Danh mục
Số lượt truy cập
6,034,044

GS. Nguyễn Văn Lục - Những vấn đề lịch sử hay sử quan của người viết sử (3 - phần 1)

22 Tháng Tư 201611:10 SA(Xem: 7092)
GS. Nguyễn Văn Lục - Những vấn đề lịch sử hay sử quan của người viết sử (3 - phần 1)

Những vấn đề lịch sử hay sử quan của người viết sử (3)


220px-Jamal_al-Din_Husayn_Inju_Shirazi_-_Two_Folios_from_the_Akbarnama_-_Walters_W684_-_Detail_ANgành sử học của Việt Nam là nghèo nàn và để khỏa lấp cái khoảng trống đó, nhiều cố gắng cấp thời như chữa lửa, mỗi người mạnh ai nấy làm trong những hoàn cảnh thiếu thốn tài liệu. Thiện chí quả thực không thiếu.

Một lời xin lỗi

Viết thừa 2 chữ. Nguồn: DCVOnline

Viết thừa 2 chữ. Nguồn: DCVOnline

Trong một bài viết cách đây đã khá lâu, khoảng năm năm, vào năm 2011 đăng trên DCVOnline.net, nhan đề: Giấy bút lầm than – Tản mạn 18 giờ với nhà báo Uyên Thao, tôi ghi lại lời kể của Uyên Thao (UT) có một đoạn ngắn như sau:

“Về các vấn đề khác thì anh tóm gọn: Chả có cái chó gì để nói. Như ông Văn Thành Cao chỉ là sĩ quan lo ẩm thực. Khi hết lương thực thì bất đắc dĩ đi ăn cướp. Lâu lâu ông sai lính sang Cao Mên lùa trâu, lùa bò về giết thịt cho anh em ăn. Nhưng lùa trâu, lùa bò của Cao Mên thì được coi là “hợp pháp”.”

Đoạn văn trên có một chi tiết sai đã được UT nhắc lại, sau 5 năm, trong một bữa tiệc giữa bạn bè tại quận Cam trong tuần vừa qua. Chủ đích có thể muốn nói rằng tôi cũng viết sai sự thật. Anh Trần Phong Vũ có mặt trong bữa đó và đã yêu cầu tôi xác nhận lời nhận xét của UT. Tôi trả lời chắc là tôi không viết như thế. Sau đó, tôi nhận được email của Trần Phong Vũ viết:

“Đây là bằng chứng chuyện UT nói với mọi người trong bữa ăn trước là có thực, do chính cậu viết ra mà sau đó đã quên. Cậu đọc phần cuối trang 213 sau đây trong tập sách tính in do cháu Phúc lay out về Văn Thành Cao.”

Bài viết nói trên của tôi tính ra có 13.460 từ, trong đó tôi viết dư hai chữ, Văn Thành. Trong ngữ cảnh của bài phỏng vấn UT đang nhắc đến giáo phái Cao Đài và nói đến một sĩ quan tên Cao. Tôi ghi notes vội, đến khi viết thành bài, do liên tưởng, tôi nghĩ đó là tướng Văn Thành Cao.

Tôi ghi nhận sự sai xót này, và có lời xin lỗi nhà văn UT về hai chữ Văn Thành viết dư.

Giấy bút lầm than tưởng chỉ có nhà văn UT trải nghiệm nay thì đến lượt tôi!

Tôi cũng xin thưa với bạn đọc là trong số khoảng trên dưới 200 bài biên khảo tôi đã viết, sai xót hẳn cũng nhiều và không tránh được. Mong bạn đọc hiểu cho. Xin cảm tạ.


Những vấn đề lịch sử

Di tích lịch sử của Mexico tìm thấy trong đường hầm bên dưới ngôi đền của Feathered Serpent ở Teotihuacan.This May 22, 2014 photo released by Mexico's National Institute of Anthropology and History (INAH), shows sculptures and shells unearthed by investigators at the Teotihuacan archeological site in Mexico. Mexican archaeologists have concluded a yearslong exploration of a tunnel sealed nearly 2,000 years ago at the ancient city of Teotihuacan and found thousands of relics. Teotihuacan dominated central Mexico centuries before the rise of the Aztecs in the 14th century. (AP Photo/Proyecto Tlalocan, INAH)

Di tích lịch sử từ gần 2000 năm trước của Mexico tìm thấy trong đường hầm bên dưới ngôi đền  Feathered Serpent ở Teotihuacan. This May 22, 2014 photo released by Mexico’s National Institute of Anthropology and History (INAH), shows sculptures and shells unearthed by investigators at the Teotihuacan archeological site in Mexico. Mexican archaeologists have concluded a yearslong exploration of a tunnel sealed nearly 2,000 years ago at the ancient city of Teotihuacan and found thousands of relics. Teotihuacan dominated central Mexico centuries before the rise of the Aztecs in the 14th century. (AP Photo/Proyecto Tlalocan, INAH)

Khi nghĩ đến nước Pháp hay nước Mỹ trong việc lưu trữ tài liệu lịch sử của họ và nghĩ đến Việt Nam, lòng tôi cảm thấy sôi lên vì tức giận. Nước Pháp cũng trải qua hai cuộc thế chiến, nhưng ý thức về việc bảo tồn di tích và tài liệu sử cao nên họ còn tôn tạo và bảo vệ hầu như nguyên vẹn gia tài văn hóa của họ.

De Gaulle, sau thế chiến hai khi vào Paris thì sáng hôm sau ông quay trở về căn nhà ông đã ở. Mọi đồ dùng ở trong nhà hầu như còn nguyên vẹn – từ thanh kiếm đến bàn máy đánh chữ và những vật kỷ niệm, v.v., ông không khỏi xúc động.

Sau 1954 và 1975, Việt Nam còn lại gì?

Bài viết thứ ba này của tôi đặt ra một số vấn đề sử học mà tôi thiết nghĩ là cần thiết phải đặt ra.

Ngành sử học của Việt Nam là nghèo nàn và để khỏa lấp cái khoảng trống đó, nhiều cố gắng cấp thời như chữa lửa, mỗi người mạnh ai nấy làm trong những hoàn cảnh thiếu thốn tài liệu. Thiện chí quả thực không thiếu.

Kết quả ấy nay nhìn lại hẳn là dang dở, nhiều bất cập và làm thế nào để chỉnh sửa lại những sai sót đó và nếu làm thì biết bao giờ cho xong!

Nguyên do của vấn đề sử học này có thể do tình yêu nước đi đến chỗ phô trương thiếu cơ sở – che dấu, lấp liếm cũng có – hoặc do nhu cầu chính trị cần được củng cố một sự thống nhất ý chí hoặc đơn giản là đi tìm một Việt tính, một căn cước Việt mà thật sự khá phức tạp.

Việc xây dựng lại ngôi nhà văn hóa Việt Nam là một nỗ lực liên tục của một số nhà làm văn hóa ở miền Nam, trước 1975 mà ngày nay người ta có thể tìm thấy trong các bài biên khảo của các tác giả như Thái Văn Kiểm, Nguyễn Duy Cần, Nghiêm Thẩm, Thái Lăng Nghiêm, Nguyễn Văn Thích, cụ Nguyễn Đăng Thục, Cung Đình Thanh, Nguyễn văn Huyền và nhiều người khác nữa.

Nhưng kết quả thực tế đạt được gì thi khó một ai có thể trả lời được.

Ngoài Bắc tôi chỉ được biết có cụ Cao Xuân Huy trong một tác phẩm, Tư tưởng Phương Đông – Gợi những điểm nhìn tham chiếu.(1)

Trong một chừng mực khả thể, tôi nghĩ rằng những việc làm của các nhà văn hóa trên chỉ nên ghi nhận ở thiện chí và cố gắng của họ, nếu chỉ giới hạn phạm vi văn hóa. Còn kết quả thực tế ra sao thì không kiểm chứng được.

Nhưng nếu họ bước sang lãnh vực lịch sử – như một khoa học nhân văn – thì việc căn bản vẫn là cần tôn trọng sự thật lịch sử mà không thể tùy tiện được.

Sử học đã nghèo nàn về nhiều mặt lại cộng thêm thứ chủ nghĩa dân tộc khá cực đoan. Cái chủ nghĩa ấy như một liều thuốc ngủ làm an tâm nhiều người. Sự ru ngủ ấy đi đến chỗ nhiều người tin rằng Việt Nam cũng có một nền văn hóa từ lâu đời và nay chỉ cần cần bảo tồn và phát huy thêm cái văn hóa ấy.

Theo cách nhìn ấy thì ta cái gì cũng có, cái gì cũng nhất. Người ta thường nói đến một ‘kho tàng’ văn hóa. Ai nói khác là không được.

Thời Hồng Bàng (2879 – 258 TCN) – Hong Bang period (2879 – 258 B.C) with English sub by Xanh Tre.

Đó là một ngộ nhận lịch sử mà sử gia Lê Minh Khải muốn vạch ra cho mọi người thấy.

Và Lê Minh Khải viết:

“A major problem, however, is that one of the key elements of nationalism is that it relies on invented history in order to support it claims. Therefore, it is very difficult for someone who lives in a world dominated by a nationalist discourse to understand what life was like before that discourse took hold because the nationalist discourse itself argues that its ideas have been upheld since antiquity.”(2)

“Tuy vậy, một vấn đề lớn được coi như một trong những yếu tố chính của chủ nghĩa dân tộc là nó dựa vào hư cấu lịch sử để hỗ trợ cho quan điểm của mình. Tuy nhiên, thật là khó cho những người sống trong cái môi trường đã bị rao giảng chủ nghĩa dân tộc chế ngự có thể hiểu về một đời sống trước đó là gì vì lời giảng chủ nghĩa dân tộc tự lập luận rằng những tư tưởng của nó đã đúng từ thời cổ đại.”

Đó là một thứ lịch sử tô hồng mà toàn bộ như một thứ anh hùng ca, hoặc đơn giản đôi khi chỉ là những sao chép vụng về quá khứ vay mượn từ những xã hội văn minh đã có sẵn lấy về làm của mình như trường hợp lấy của nước Tầu . Sau đó, nó lại được củng cố thêm bởi tính cách ‘bất di bất dịch’ trong tinh thần truyền thống tôn trọng cổ nhân. Khổng Tử nói!

Sau đây, tôi xin đưa ra một vài trường hợp tiêu biểu.

Vấn đề sử trong trường hợp giáo sư Lương Kim Định

Nguồn:

Nguồn: Nguồn Sáng

Nói về mặt số lượng tác phẩm để lại thì công trình nghiên cứu của ông là đồ sộ, đáng kính nể. Như Chữ Thời, Triết lý cái Đình, Loa Thành Đồ thuyết, Cửa Khổng, Việt Lý Tố Nguyên hay Hồn nước với lễ gia tiên, v.v. Tất cả trên hai chục cuốn sách.

Phải nhìn nhận là tôi đã bị lạc hướng trong những biện thuyết của giáo sư. Sự vay mượn toàn bộ triết học Trung Hoa – đặc biệt triết lý Nho giáo qua các Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, bằng một thuật ngữ hoán chuyển tuyệt vời chúng trở thành Kinh Hùng, Kinh Ước, Kinh Ngữ, Kinh Lạc, của Việt Nam.

Thế là trong khoảnh khắc, Việt Nam có một nền Minh Triết với căn tính Việt đi qua cửa Khổng, sân Trình.

Theo tôi, lấy của Tầu, dánh nhãn Việt Nam là điều không nên.

Đã thế, triết lý Nho giáo của Tầu với Khổng Tử, có trước thiên niên kỷ. Mà Việt Nam lúc đó một cái tên gọi cũng chưa có nhưng lại đã có thể có một nền minh triết hoàn chỉnh mà không do một ai đặt ra, và có thể nó đã bàng bạc trong dân gian, trong đơn vị làng xã.

Tôi nhìn nhận sự hấp dẫn nhất thời có thể có trong lối biện bạch, lý giải áp đảo chắc nịch như trong cuốn: Hồn Nước với Lễ Gia Tiên hay cuốn Chữ Thời của tác giả. Nhưng tôi vẫn nhận ra trong lối biện bạch ấy có nhiều lỗ hổng, thiếu luận lý, như một sự chắp vá, rối như một nồi canh hẹ. Nó đúng là một nồi súp hổ lốn ăn thì ngon, nhưng ăn xong không biết mình đã ăn gì!

Tôi thường nghe những lời tán tụng chung quanh các tác phẩm của giáo sư do các môn sinh của ông nói lại mà thực sự phần lớn tôi không nắm bắt được hết.

Tôi đặt ra một khoảng cách trong tinh thần ‘kính nhi viễn chi’ để không xúc phạm đến bạn bè cũng như bất cứ ai có một sự sùng kính đến một vị tiền bối vốn được coi như một bậc thầy của một thời.

Tuy nhiên, về mặt biện luận, trao đổi – theo tôi nghĩ – thì mọi cánh cửa hầu như đã đóng lại, khỏi bàn cãi về các công trình này. Bởi vì nó đã không có bất cứ căn bản nào, mấu chốt nào để từ đó có thể đi đến một trao đổi thiết thực và hữu ích.

Giả dụ, nếu có một trao đổi ‘đối thoại’ thì đây là một trao đổi một chiều. Những từ rất đắc dụng như chữ Thời, triết lý an vi, biện luận về triết lý Cái Đình, Văn Miếu đã được tổng quát hóa. Thật vậy, không thể chỉ thấy một vài cái Đình ở ngoài Bắc đã có thể từ đó dựng nên một cơ sở triết lý văn hóa trong khi toàn bộ từ phía Nam Trung bộ trở đi không ai thấy dấu vết một cái Đình nào cả!

Chẳng hạn tu từ Hồn Nước là một phạm trù mà ngoại hàm của nó quá lớn bao trùm cả một nhân sinh quan, vũ trụ quan. Nại cái từ Hồn Nước chung chung mà thực tế không ai biết mặt mũi nó ra sao thì đó chỉ là lối suy luận áp đặt, một công cụ triệt hạ mọi ý kiến trao đổi.

Người nào đã kinh qua cửa trường học Platon thì đơn giản nhận ra đây là lối suy luận triết học của trường phái ngụy biện. Họ chú trọng đến phần tu từ học, phần luận thuyết có khả năng áp đảo người đối lập mà không quan tâm mấy đến nội dung bàn cãi.

Chẳng hạn khi tôi xử dụng từ Hồn Nước – mặc dầu không ai có thể chỉ định Hồn nước là cái gì – thì tự thân hai từ đó có ý nghĩa mặc định, linh thiêng khỏi bàn cãi.

Vì thế, không lạ gì các khóa giảng của giáo sư Lương Kim Định trong những năm 1961-1970 tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, không mang tính hàn lâm, không chính thức được nhìn nhận trong Khoa Triết Học Đông Phương, hiểu theo cái nghĩa là Việt Nam làm gì đã có triết lý. Nói đến triết học Đông Phương là nói đến triết học Trung Hoa, triết học Ấn Độ. Không phải chỉ có mình Khổng Tử mà còn nhiều trường phái khác, nhiều triết gia khác nữa. Việt Nam chưa có triết học và cũng chưa thể có triết gia nên hãy khoan nói đến Cơ cấu Việt Nho.

Nhưng bên ngoài cổng trường đại học Văn Khoa, các tác phẩm của giáo sư Lương Kim Định được đón nhận một cách nồng nhiệt, vì nó thỏa mãn phần nào tự ái dân tộc.

Nhưng về mặt thực tiễn thì đây chỉ là một hoán chuyển hàng thật lấy hàng giả. Mượn cái của người làm của mình mà không mất vốn.

Trần Quang Đức, một người nghiên cứu sinh giữa thập niên 1980, tác giả Ngàn Năm Áo Mũ, trong phần kết luận của cuốn sách đã viết:

“Có thể điểm qua việc ông Kim Định, Hà Văn Thùy chứng minh Nho giáo mang nguồn gốc Việt, chân núi Thái Sơn từng là địa bàn cư trú của dân tộc Việt, Kinh Dịch là phát minh của người Lạc Việt v.v., tương tự trường hợp ông Ban Mun Ki, Kang Sang Won chứng minh chữ Hán là phát minh của người Hàn Quốc, sau đó dấy lên một loạt các bài viết tuyên bố người Hàn là chủ thể sáng tạo ra Đông y, Kinh Dịch, la bàn, thậm chí Khổng Tử, Tôn Trung Sơn là người Hàn Quốc v.v. Những nghiên cứu cổ sử dạng này, đều chịu sự chi phối của tinh thần dân tộc, còn nặng tính tư biện, suy diễn, thiếu chứng cứ khoa học xác tín.”(3)

(còn tiếp)

Nguyễn Văn Lục

Nguồn: DCVOnline
18 Tháng Mười 2020(Xem: 352)
Cuộc đời rất ngắn ngủi của Chad sẽ nhắc nhở các bạn trẻ luôn đeo khẩu trang để tự cứu mình, giúp người chung quanh; cùng nhận ra cuộc đời khá mong manh trong, và cả sau đại dịch.
10 Tháng Mười 2020(Xem: 284)
Màu da ngâm ngâm hơi rám nắng, mũi không cao, mắt mí lót, mặt có những nốt tàn nhang li ti. Nụ cười cũng chẳng làm nghiêng nước nghiêng thành nhưng biểu cảm sự thành thực và thân thiện.
10 Tháng Mười 2020(Xem: 619)
Bạn có thể mất thu nhập, tạm thời mất tự do, nhưng nếu bạn bị mất mạng, tất cả mọi thứ đều kết thúc!
05 Tháng Mười 2020(Xem: 560)
Kết thúc năm đệ nhị B3, bạn lãnh thưởng hạng nhất. Phạm Thanh Thừa, đứa bạn chí thân cùng bạn, được phần thưởng hạng nhì. Tôi, Đỗ Công Luận, được phần thưởng hạng ba. Tam kiệt của lớp nhị B3.
05 Tháng Mười 2020(Xem: 377)
Nhưng không thấy Phúc trả lời, có ngờ đâu thời gian cuối tháng 7 là lúc Phúc HÔN MÊ 2 tuần ở bệnh viện!!!
04 Tháng Mười 2020(Xem: 398)
Những giọt nước mắt của mùa thu yêu thương và hoài niệm. Rồi mọi thứ sẽ qua, rồi tôi cũng sẽ đi vào hư vô. Mọi vật đều vô thường. Hãy nghĩ như vậy để yên vui.
28 Tháng Chín 2020(Xem: 565)
... Rồi theo anh theo chị vào Saigòn và được học trường tỉnh với giờ giấc đầy đủ và nay tôi bước vào trường trung học Pétrus Ký với một niềm tự hào.
27 Tháng Chín 2020(Xem: 563)
Hình như sự đoàn kết, và tinh thần trách nhiệm của các em trước tình huống không lường trước cũng là một bài học cho rất nhiều người lớn trong thời đại dịch.
19 Tháng Chín 2020(Xem: 564)
Nguyện cầu cho sân si con người dịu lại, thấy được sự vô thường của cuộc sống. Nguyện cầu cho lửa mau tàn, cho người dân trở về nhà sinh sống bình an. Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát.
19 Tháng Chín 2020(Xem: 833)
Các trang mạng xã hội nếu được sử dụng một cách khôn ngoan, đúng mục đích, đúng lúc thì sẽ mang về niềm vui bất tận,
13 Tháng Chín 2020(Xem: 484)
Tôi nhớ ơn anh chị, và cả vợ chồng anh Hy, chịu đựng được chúng tôi, mà không đấm cho vỡ mồm, hộc máu mũi. Càng lâu, tôi càng thấm thía cái câu ‘ Bầu bí một giàn’ của anh Hy nói ngày xua.”
12 Tháng Chín 2020(Xem: 566)
Viết vài dòng này để tạ tội với dì tôi đã một thời mù đôi mắt vì tình lụy và nhất là tạ tội với ông Nghị Nguyễn Bá Kỳ vì tôi đã hiểu lầm ông. Hắt hơi là tình hận chứ không phải muốn hù dọa, khoe danh.
11 Tháng Chín 2020(Xem: 748)
Niềm vui lớn nhiều khi chỉ đơn giản tạo thành từ tấm lòng và sự quan tâm hàng ngày dành cho người khác.
11 Tháng Chín 2020(Xem: 414)
Chiều vàng Thu, chập chờn đôi cánh én, Triền National Parks lá ửng Thu hồng! Có phải Thu, ngoài song cửa đó không? Ta mong chờ, làn gió Thu dịu mát!
10 Tháng Chín 2020(Xem: 422)
Hầu như người Mỹ nào ít nhất cũng một lần nghe hay nói đến tên ông, Ernest Hemingway, nhà văn người Mỹ nổi tiếng đoạt giải Nobel văn chương năm 1954.
05 Tháng Chín 2020(Xem: 624)
Ngày cùng má đi dạo phố cũng là ngày cuối cùng tôi được hạnh phúc bên má, cũng là chuyến xe cuối cùng tôi được cùng má ngắm hoa.
05 Tháng Chín 2020(Xem: 509)
Tôi chắc mẹ tôi sẽ nhận ra tôi, bà nhận ra tôi bằng trái tim muôn kiếp của người mẹ. Còn tôi, tôi cũng sẽ nhận ra mẹ tôi, tôi nhận ra bà từ bản năng của thằng ăn hại.
04 Tháng Chín 2020(Xem: 836)
Người Mỹ thì sắp khép lại mùa hè rất buồn với ngày Lễ Lao Động (thứ hai đầu tháng 9 hàng năm) không đem lại niềm vui cho hầu hết mọi người.
29 Tháng Tám 2020(Xem: 617)
. Các Tăng Ni dù không được tập trung cầu nguyện như những mùa Vu Lan trước, nhưng năm nay bà Tâm tin tưởng Thầy, Sư Cô và các vị Sư sẽ trì chú tụng kinh nhiều hơn ở mỗi đêm.
27 Tháng Tám 2020(Xem: 960)
Nhìn hình em bé một tay cầm viết chì, một tay kéo áo chùi nước mắt, chúng tôi cũng chạnh lòng thương em bắt đầu cuộc đời học trò trong "sương mù" của hoài nghi, với hình ảnh cô giáo mờ nhạt, ẩn hiện qua màn hình.