Danh mục
Số lượt truy cập
5,052,516

Nguyễn-Xuân Hoàng - SỔ TAY THÁNG BA, 2002

01 Tháng Bảy 201410:17 CH(Xem: 983)
Nguyễn-Xuân Hoàng - SỔ TAY THÁNG BA, 2002



SỔ TAY THÁNG BA, 2002


Người bạn bất ngờ trên xe B.A.R.T

1.

Tôi quen anh tình cờ trên xe BART. Tôi lên trạm Fremont, còn anh lên trạm thứ hai, trạm Union City. Hôm đó xe không đông lắm. Không hành khách nào phải đứng. Anh ngồi vào chỗ trống bên tôi. Trời lạnh. Xe qua các trạm South Hayward, rồi Hayward, Bay Fair, ... Người lên rồi người xuống, anh vẫn ngồi yên, mắt chăm chú nhìn vào cuốn sách đặt trên đùi. Khi xe vừa qua khỏi San Leandro, anh giật mình quay sang hỏi tôi "Xin lỗi ông, xe đã qua trạm Fruitvale chưa?" Tôi ngạc nhiên nhìn thấy một chàng Mỹ đen nói tiếng Việt sỏi như thế. Tôi trả lời rằng tôi nghĩ là chưa. Xe mới vừa qua San Leandro. "Cám ơn ông. Vậy là còn một trạm nữa." "Anh xuống Fruitvale à?" "Không. Tôi xuống Coliseum." Không biết tại sao anh hỏi Fruitvale vì đến trạm Fruitvale là xe đã qua Coliseum rồi. Lúc đó là hai giờ năm mươi ba phút chiều. Tôi nói còn bốn phút nữa xe sẽ ngừng ở Coliseum. Anh gắp trang sách đang đọc dở dang, và thấy tôi cũng đang cầm trên tay cuốn sách, anh hỏi: "Xin lỗi, ông đang đọc gì?"

Tôi chìa bìa cuốn sách về phía anh. Cuốn Testaments Betrayed của Milan Kundera*. Anh hỏi tôi "Tay này là ai vậy?"

"Một nhà văn." Tôi không biết trả lời anh cách sao.

Trời lạnh. Trên xe người nào cũng mặc áo khoác mũ trùm đầu. Một vài thanh niên da đen mặc quần áo sậm, rộng rinh, đầu quấn khăn giống như nông dân Việt Nam, cười nói ồn ào ở dãy ghế cuối. Ở cửa ra vào, một người áng chừng gốc Mễ, ngồi với chiếc xe đạp. Một phụ nữ Á châu đang áp tai vào cái điện thoại cầm tay. Không thấy ai cười. Những khuôn mặt lặng lẽ. Trạm xuống của tôi còn xa. Khi nào qua Ashby, tôi mới chuẩn bị xuống Berkeley.

Thấy tôi nhìn cuốn sách còn đặt trên đùi, anh cười: "Tôi đang đọc cuốn The Unwanted của Kiên Nguyễn. Ông đã đọc cuốn này chưa?"

"Có. Tôi có đọc qua."

"Anh thấy sao?"

"Thấy sao là sao?"

"Ông có thích cuốn sách đó không?"

"Tại sao anh hỏi tôi?"

"Tại vì tôi rất thích. Cuốn sách đó nó nói một khía cạnh của đời tôi. Tác giả lai Mỹ trắng, còn tôi lai Mỹ đen. Tác giả có một bà mẹ Việt Nam giàu có, còn tôi có một bà mẹ Việt nghèo khổ. Tác giả được đi học đại học, tôi chưa hết trung học đã phải đi làm...." Và đột nhiên anh hỏi tôi "Ông làm gì?"

Tôi nói công việc của tôi hiện đang làm, anh cười:

"Làm báo có nói láo không?"

"Anh nghĩ là tôi nói láo sao?"

"Xin lỗi, tôi không có ý nói vậy đâu. Tôi chỉ muốn biết báo có nói sự thật không?"

"Cũng tùy." Tôi nói.

"Sao ông không làm một nghề nào khác?"

"Nghề làm báo xấu lắm sao?" Tôi hỏi lại anh.

"Không. Tôi không có ý nói vậy." Anh lập lại đúng câu anh vừa nói với tôi lúc nãy. "Tôi muốn nói làm báo khó mà trung thực lắm. Có nhiều điều cần nói thì không nói và có nhiều điều không cần nói mà cứ viết ra."

Xe ngừng ở trạm Coliseum, anh đứng dậy.

"Tôi tên là Randy. Mong có dịp gặp lại ông. Chào!" Anh nói.

"Chào!" Tôi nhìn anh. Ngạc nhiên. Tôi thấy anh bước qua cửa, xách vải mang trên vai, cuốn sách của Kiên Nguyễn trên tay, đầu ngoái lại, vẫy tay.

Xe tiếp tục chạy. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ. Trời mù. Mưa.

Ba năm đã qua, nhưng Bắc Cali đối với tôi vẫn là một thành phố xa lạ... cho đến khi tôi quen biết Bart tôi mới khám phá ra một khía cạnh của vùng đất Thung Lũng Điện Tử. Tôi thích những chuyến đi trên xe bart. Nó giúp tôi nhìn thấy một một lớp người của thành phố thung lũng. Nhiều người da mầu tôi gặp trong các chuyến đi. Những khuôn mặt không quen biết nhưng gần gũi với tôi. Họ là những người trẻ ồn ào hoặc những người trung niên lặng lẽ. Đập vào tai tôi là một thứ ngôn ngữ đường phố mà tôi phải cố gắng lắm mới nắm bắt được. Có người ngồi lặng thinh, mắt nhắm bất động như một bóng ma, chỉ bừng mắt dậy đúng ga muốn xuống và âm thầm bước qua cửa. Dù họ có là ai, nhưng tôi biết đám đông ấy cùng một giuộc với tôi. Họ là tôi, và tôi cũng chính là họ. Sau lưng chúng tôi là một quê hương đã và đang xa. Và trước mặt chúng tôi là một quê hương muộn màng đang gần. Như người tình cuối cùng trong đời, quê hương đó sẽ ở lại mãi mãi với tôi.

Những chuyến xe bart cho tôi cái cảm tưởng tôi đang bắt đầu là người của vùng đất này. Cũng như tôi, một người đến từ Việt Nam, những người da mầu kia đến từ Mễ Tây Cơ, Nhật Bản, Ấu châu, Trung quốc, Đài Loan, Đại Hàn, Phi Luật Tân, Ần Độ, Pakistan, Trung Đông, Phi châu,... Chúng tôi trộn vào nhau, quết vào nhau trong một mẻ bột. Chúng tôi trang trí cho một đất nước vĩ đại thứ màu sắc chủng tộc, mang đến sức lao động và trí óc của những sắc dân còn tươi mát vẻ lãng mạn của những vùng đất hoang dã, những trái tim khao khát mới lạ. Và sau cùng là tự do. Tự do, tiếng réo gọi của những chuyến đi.

Và chính ở đây, tôi đang bắt đầu có thêm những người bạn mới. Nguyễn Hữu Liêm, Lê Thị Thấm Vân, Quế Hương, anh chị Nguyệt Cầm-Peter Zinoman,... Căn nhà của Nguyệt Cầm và Peter ở Berkeley nhỏ mà gọn. Mấy tủ sách dựa tường, ở phòng khách và phòng ăn treo nhiều tranh của các họa sĩ Việt Nam trong nước, những bức tranh đẹp. Nguyệt Cầm có giọng nói nhẹ, êm và rất ngọt. Có lần họp mặt ở nhà Vũ Huy Quang, tôi còn được dịp nghe chị đàn và hát, một tiếng hát còn tươi như cá vừa vớt từ dưới ao lên, nhưng là một tiếng hát tràn ngập hơi thở của một trái tim. ..

Tôi quen Bart sau khi đã có thêm những người bạn mới. Và giờ đây là người thanh niên da đen tên Randy.

2.

Mấy tuần sau, những ngày thứ Năm, mỗi khi xe dừng ở trạm Union City, tôi bất chợt nhớ anh. Có những người, ta chỉ gặp một lần và ta không muốn gặp thêm một lần nào nữa. Và ngược lại. Tôi nghĩ có thể Randy đang ngồi ở một toa khác. Hoặc có thể anh đi vào một chuyến khác. Cũng có thể anh chỉ là người một lần tình cờ lên xe bart. Ở vùng này, con đường từ San Jose đi Oakland, Berkeley hay đi San Fran, người ta chọn cách tự lái xe hơn là chọn đi bart. Tôi có cảm tưởng bart là phương tiện di chuyển chỉ dành cho những người ngại lái xe, người da mầu và..... người nghèo.

Cho đến một ngày giữa tháng Hai vừa qua. Đúng ra là ngày 14 tháng Hai. Một ngày thứ Năm. Vừa bước lên xe ở trạm Fremont, tôi nhận ngay ra anh. "Hello, Randy!" tôi nói. Người thanh niên da đen đang cúi xuống trang sách đặt trên đùi, ngẩng đầu lên.

"Chào! May quá. Tôi đang có ý gặp ông."

Tôi ngồi xuống cạnh anh, mở ba lô kéo ra cuốn Testaments Betrayed của Milan Kundera.*

"Anh vẫn đọc cuốn The Unwanted phải không?"

"Thì The Unwanted đó. Tôi đọc chậm lắm. Chỉ đọc khi đi xe thôi. Ở nhà nhiều việc, không có thi giờ đọc. Còn ông?"

Tôi nói về cuốn sách của Kundera, cuốn sách ở cuối phần ba Improvisation in Homage to Stravinsky giải mã cho tôi những ẩn số của một người cầm bút không còn ở trong nước [lưu vong, tị nạn, hải ngoại?]. Dưới tiểu tựa Số Học Của Sự Di Tản**, Milan Kundera viết: "Cuộc sống của một người di tản, là một vấn đề số học." Và ông nhắc tới Joseph Conrad bằng những con số: sống 17 năm ở Ba Lan, và 50 năm còn lại của đời ở Anh. Ông sáng tác bằng tiếng Anh, đề tài Anh, tính chất Ba Lan nơi ông không còn nữa, ngoại trừ sự dị ứng chống Nga của ông, sự thù ghét của ông đối với Dostoyevsky; Vladimir Nabokov sống 20 năm ở Nga, 21 năm ở châu Ấu, [ở Anh, ở Đức và Pháp], 20 năm ở Mỹ, 16 năm ở Thụy Sĩ. Ông sử dụng Anh ngữ trong viết lách. Mặc dù tiểu thuyết của ông có nhiều nhân vật Nga, ông vẫn luôn luôn tuyên bố mình là công dân Mỹ, và là nhà văn Mỹ. Kundera cũng nhắc tới tên một vài tác giả mà tôi chưa hề nghe bao giờ: Kazimierz Brandys, sống 65 năm ở Ba Lan, năm 1981 định cư ở Paris sau vụ đảo chính của Jaruzelski. Ông chỉ viết bằng tiếng Ba Lan, về đề tài Ba Lan, tuy nhiên sau năm 1989, dù không còn lý do chính trị để ở lại nước ngoài, ông vẫn không trở về Ba Lan. Gombrowicz một tác giả khác, đã sống 35 năm ở Ba Lan, 23 năm ở Argentina, 6 năm ở Pháp. Tuy nhiên ông chỉ viết bằng tiếng Ba Lan, và các nhân vật trong tiểu thuyết của ông đều là Ba Lan. Năm 1964, trong thời gian ở Berlin, ông được mời về Ba Lan. Ông đắn đo, rồi cuối cùng từ chối. Khi ông chết, hài cốt ông được chôn ở Vence, miền nam nước Pháp.

Tại sao Gombrowicz từ chối không về Ba Lan, dù chế độ cộng sản của Ba Lan đã phân rã, và hầu hết những người hoạt động văn hóa đã tham gia phe đối lập.

Những người cầm bút di tản [lưu vong, tị nạn hay hải ngoại] của chúng ta, theo cách nói của Kundera, mà những điều kiện chính trị và văn hóa khác người Ba Lan hay người Nga, nhưng cũng có thể có một mẫu số chung là ngoài nỗi đau khổ nhớ tới quê hương, chúng ta còn thêm một nỗi đau khác, lớn hơn, nỗi đau khi gặp lại, nhìn lại quê hương sau bao nhiêu năm xa cách, nhận ra những gì trước đây gần gũi thân mật và giờ đây bỗng trở nên xa lạ, lạnh lẽo, trong khi vùng đất và con người xa lạ mà ta ngỡ ngàng khi mới đặt chân đến định cư giờ đây ngày càng gần gũi gắn bó, thân mật.

Đâu là lý do đích thật của sự từ chối trở lại quê hương của Gombrowicz. Chắc không phải là lý do chính trị. Đó là vấn đề con người, sự đụng chạm vào cái phần sâu xa nhất của trái tim. Sự từ chối trở lại quê hương của Gombrowicz là điều ông không thể thổ lộ được. "Có những điều [người ta] chỉ có thể [dùng ngôn ngữ của sự] nín lặng."***

Randy ngồi im lặng nghe tôi nói, và nhìn đôi mắt anh tôi biết anh có vẻ như chẳng hiểu tôi ba hoa cái gì. Đột nhiên anh hỏi:

"Thế ông đã về nước lần nào chưa?"

"Có, một lần, vào năm ngoái. Đó là lần đầu tiên sau 17 năm xa quê của tôi."

"Vậy là ông nghĩ khác ông Gombrowicz phải không?"

"Mỗi người có một cách của nhìn cuộc sống khác nhau. Tôi nghĩ Milan Kundera nói đúng."

"Tôi không hiểu Milan Kundera. Ông nhà văn đó phức tạp quá. Tôi chỉ muốn biết ông nghĩ sao sau khi về Việt Nam?"

"Tôi thấy mình xa lạ. Tôi nôn nao, hồi hộp. Tôi đã chảy nước mắt khi bước xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi đã về thăm mộ mẹ tôi, cha tôi và anh tôi. Tôi đã đứng trước căn nhà của tôi, giờ đây đã có người chủ mới. Tôi lạc lõng trên con đường phố mà xưa kia quen thuộc thân mật với tôi biết là chừng nào."

Câu chuyện giữa tôi và Randy còn dài, mãi tận đến Richmond là nơi cả tôi và anh không ai muốn đến.

3.

Anh/chị ở San Jose đã lâu, hay vừa mới tới, có bao giờ đi xe BART chưa? Nếu chưa, tôi nghĩ anh/chị nên đi một lần cho biết. Xe bart có vẻ gần với xe metro. Ga xe bart ở Fremont không rộn rịp như các ga metro ở Paris. Có vài nơi xe bart chui qua hầm, nhưng phần lớn xe bart đi giữa những gò cao. Ban đêm từ phía bắc Richmond trở về Fremont, anh/chị có thể nhìn thấy những thành phố sáng đèn ở phía dưới: Bay Fair, Hayward, Union city,...

Suốt hai mùa đi xe bart lên xuống Fremont - Berkeley , tôi khám phá ra giai cấp của những người đồng hành: Rất ít người da trắng, người da màu chiếm đa số, đặc biệt là người da đen và nâu. Da vàng cũng vừa thôi. Càng về tối, xe càng vắng. Đôi lần, tôi thấy hình như... chỉ có một mình mình ngồi giữa toa tàu trống trơn.

Tiểu thuyết lịch sử, tại sao?

Nhà văn Hoàng Khởi Phong vừa gửi đến người đọc phần một bộ trường thiên tiểu thuyết Người Trăm Năm Cũ phần một, gồm hai cuốn Trên núi Đồi Yên Thế I và II, dài 866 trang. Tác giả cho biết sẽ in tiếp Người Trăm Năm Cũ III và IV vào năm 2003. Tính về lượng, kể từ cuốn đầu tay: tập thơ Mặt Trời Lên in năm 1967, cho đến nay Hoàng Khởi Phong đã ấn hành 15 tác phẩm gồm thơ, tập truyện, hồi ký, truyện dài, ký sự nhân vật.... Với bộ sách này anh hứa hẹn với người đọc một cuộc chạy nước rút: vượt qua chiều dài của Sông Côn Mùa Lũ và Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác. Hoàng Khởi Phong viết khỏe, thử bút qua nhiều thể tài và đặc biệt ông có một ngòi bút trơn tru. Dù viết dưới bất cứ thể loại nào, tác giả cũng lôi cuốn người đọc bằng một văn phong hực lửa. Hoàng Khởi Phong thở trên từng trang chữ, chạy marathon trên từng cây số.

Sau Hoàng Khởi Phong, nhà văn Nam Dao cũng chuẩn bị in Đất Trời, tiểu thuyết do nhà Văn Mới xuất bản. Trong vòng hai năm qua, Nam Dao đã liên tục gửi đến người đọc các tác phẩm, không những được viết từ một ngòi bút nặng chất văn học mà còn là một trong số ít tác giả hải ngoại quan tâm tính tư tưởng trong nội dung và cách viết của mình. Hai tác phẩm mới đây của ông, Trong Buốt Pha Lê (tập truyện) và Khoảng Chơi Vơi (truyện và ký) do nhà Thi Văn xuất bản, Nam Dao đã bày tỏ quan điểm của mình trong sáng tác: "Trong một thế giới mở, người viết ở vị thế một di dân, tuy đèo bồng nền văn hóa của sắc tộc mình nhưng không bắt buộc cứ phải lập lại và khép kín trong những sắc thái và tình tự đặc thù cá biệt. Văn chương chỉ vượt lên tầm nhìn khái quát khi đối tượng khái quát. Đó là con người ở những điểm chia chung với nhau về thân phận. Nhìn rộng ra và đi sâu vào những mảnh đời của những sắc dân chung quanh ta là một hướng văn học đáng trân trọng."

Vấn đề đặt ra ở đây là sau Sông Côn Mùa Lũ của Nguyễn Mộng Giác là Người Trăm Năm Cũ của Hoàng Khởi Phong, và bây giờ là Đất Trời của Nam Dao ... đều là những tiểu thuyết lịch sử.

Tại sao tiểu thuyết lịch sử? Thứ tiểu thuyết mà trước đây không lâu các nhà phê bình và những nhà văn hiện đại đã gần như bỏ quên nó. Tiểu thuyết lịch sử đã đi vào quá khứ như Hoàng Lê Nhất Thống Chí đã thuộc về một thời đại không còn là của chúng ta. Người cầm bút đương đại không thể không gắn bó với đề tài của cuộc sống hiện nay. Chọn đề tài quá khứ là một cách lẩn trốn hiện tại, lẩn trốn những vấn đề mà mỗi chúng ta bắt buộc phải chạm mặt hàng ngày.

Mặc dù ai cũng biết viết tiểu thuyết lịch sử không phải là viết lịch sử, người đọc khó tính luôn luôn soi mói vào những chi tiết (có thật không? có đúng không?) Các nhà văn hậu hiện đại không chia sẻ quan điểm này. Viết đòi hỏi trí tưởng tượng. Tiểu thuyết là những điều "bịa như thật" (ai đã nói thế?). Viết tiểu thuyết lịch sử yếu tố tưởng tượng càng phải mạnh hơn. Nhà văn Anh A.S. Byatt cho rằng trong khi đương đầu với các đề tài lịch sử, "nhà văn có toàn quyền sáng tạo ra quá khứ mộng tưởng theo ý họ từ những chi tiết khác thường về tên họ, biến cố và nơi chốn. Nếu chúng ta không biết, chúng ta có quyền phát minh và mọi thứ đều được phép."

Thử đọc lại Nguyễn Huệ qua Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Mộng Giác, Trần Vũ để khám phá ra cái khác biệt của lịch sử và tiểu thuyết lịch sử. Hơn lúc nào hết, những năm gần đây, tiểu thuyết lịch sử đã có chỗ đứng của nó. Đừng quên giải Pulitzer năm 2001 về tiểu thuyết vào tay Michael Chabon với The Amazing Adventures of Kavalier and Klay là một cuốn tiểu thuyết lịch sử. Trước đó, nhiều nhà văn tên tuổi Mỹ cũng đã chọn đề tài lịch sử cho tiểu thuyết của mình. Như Toni Morrison với Paradise; Don Delillo với Underworld; Russell Banks với Cloudsplitter...****

Mai Trung Tĩnh, Như Thế

Mai Trung Tĩnh làm nhiều thơ, nhưng bài thơ mà tôi thuộc nhất là bài (tựa là gì?) có mấy câu như sau:

Khi nào em mệt mõi
Thì xin em hãy cầm lấy tay anh
Ầy con đường đưa em tới
Vùng mây trời biển xanh
Khi nào em tội lỗi
Mời em hãy giẫm lên đời anh
Đừng quên anh đã có thừa ô nhục
Và nơi đây cũng không còn thần linh
...
Khi nào em tuyệt vọng
Thì xin em hãy cầm dao giết anh
Vì anh như tấm gương soi đối mặt em đó
Vỡ một lần cho xong.

Bài thơ ghi được bằng trí nhớ trên đây là một bài thơ đã được phổ thành nhạc, và trí nhớ của tôi không hoàn toàn bảo đảm sự toàn vẹn nguyên chất của bài thơ. Nhưng mới đây, ngày 20 tháng Hai, 2002, ngày Mai Trung Tĩnh chia tay với chúng ta mãi mãi, tại Catonsville, Maryland, nhà báo Phạm Trần ở Hoa Thịnh Đốn đã viết một bài về giấc mơ của anh, giấc mơ muốn in một tập thơ để lại cho vợ con, bạn bè và cho đời trước khi ra đi. Tập Thơ Mai Trung Tĩnh gồm 73 bài thành hình nhờ công sức của bằng hữu. Tôi không có tập thơ trong tay, nhưng bài viết của Phạm Trần cho tôi cơ hội có được bài thơ sau cùng của anh, bài Như Thế viết tại Annapolis năm 1995 là năm ông mới vừa tới định cư tại Hoa Kỳ.

Vẫn mây trời như thế
Nắng vẫn như thế
Gió và mưa như thế
Nhưng ta không còn phải sống những giây phút như thế
Thành phố ta ở không như thế
Những bộ mặt quanh ta không như thế
Ngôn ngữ ta nghe và báo ta đọc không như thế
Ấm nhạc ta nghe cũng không bị nghe như thế
Và những giấc ngủ của ta
Những giấc mơ của ta
Không còn bị như thế

Duy có một điều
Trong chỗ sâu kín nhất của lòng ta
Ta cảm thấy vẫn còn như thế
Có lẽ mãi còn nguyên như thế.

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

* Linda Asher dịch từ bản tiếng Pháp Testaments Trahis của Milan Kundera, nxb HarperPerennial, 1995.

** Emigration Arithmetic. Sđd tr.93

*** Some things we can only leave unsaid." Sách đã dẫn tr. 95.

**** Theo tài liệu của Thượng Văn.