CÁC ANH THƯ VÀ HẬU DUỆ CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA
Lịch sử Việt Nam đã ghi lại bên cạnh những vị anh hùng dân tộc, chúng ta còn có những vị anh thư như bà Trưng, bà Triệu, cô Bắc, cô Giang… từng cầm quân chống lại ngoại xâm dù là thân phận quần thoa.
Trong 20 năm tồn tại ngắn ngũi của Việt Nam Cộng Hoà, chúng ta cũng có không thiếu gì những bậc anh thư và hiện nay ở hải ngoại, cộng đồng người Việt tỵ nạn CS của chúng ta hãnh diện khi thấy những bậc nữ lưu hậu duệ tiếp bước các bậc anh thư đi trước làm vẻ vang giới phụ nữ Việt Nam.
Dưới đây xin vinh danh những bậc nữ lưu nổi tiếng đó:
Các bậc anh thư thời VNCH:
Bà Ngô Đình Nhu, nhủ danh Trần Lệ Xuân (22 tháng 8 năm 1924 – 24 tháng 4 năm 2011) là phu nhân của ông cố vấn Ngô Đình Nhu, em trai của tổng thống Ngô Đình Diệm.
Bà Trần Lệ Xuân là con gái thứ hai của luật sư Trần Văn Chương và bà Thân Thị Nam Trân. Hai người sinh được ba người con: Trần Lệ Chi, Trần Lệ Xuân và Trần Văn Khiêm.Lúc nhỏ, bà học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, tốt nghiệp tú tài Pháp. Năm 1943 bà kết hôn với Ngô Đình Nhu và theo đạo Công giáo của nh in à chồng.
Bà là dân biểu trong Quốc hội thời Đệ Nhất Cộng hòa cùng là chủ tịch Hội Phụ nữ Liên đới . Do tổng thống Ngô Đình Diệm không có vợ nên bà được coi là Đệ Nhất Phu nhân(First Lady) của Việt Nam Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1963.
Bà Ngô Đình Nhu có nhiều hoạt động trên chính trường trong thời gian từ năm 1955 đến 1963. Với tư cách dân biểu quốc hội, bà vận động các luật liên quan đến hôn nhân gia đình; thúc đẩy việc thông qua các luật phản đối liên quan đến những vấn đề như nạo thai, ngoại tình, thi hoa hậu, đánh bốc... Bà cũng được cho là ủng hộ các luật nhằm đóng cửa các nhà chứa và ổ thuốc phiện.
Bà có khả năng diễn đạt tốt và nhanh. Theo Mecklin, cách bà Nhu nói chuyện như "như súng liên thanh nổ bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh.”
Robert McNamara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, đã nhận xét về Trần Lệ Xuân: "Giống như hầu hết những người Mỹ đến đất nước này, và theo tôi, cả nhiều người Việt nữa, tôi thấy bà Nhu là một người sáng sủa, mạnh mẽ và xinh đẹp.”
Tháng 10 năm 1963, bà Ngô Đình Nhu cùng con gái Ngô Đình Lệ Thủy đi Hoa Kỳ và Roma với dự định giải độc dư luận quốc tế về vấn đề Phật giáo và vạch trần âm mưu lật đổ chánh quyền Ngô Đinh Diệm của Tổng thống Kennedy và CIA trước công chúng Mỹ. Ngày 1 tháng 11 năm 1963 bà Ngô Đình Nhu và con gái đang trú ngụ tại khách sạn Wilshire Hotel ở Beverly Hill, California thì cuộc đảo chính xảy ra, chồng và anh chồng bà bị giết.
Sau vụ hai ông Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Diệm bị sát hại, khi được hỏi có muốn xin tị nạn tại Mỹ hay không, bà Trần Lệ Xuân đã trả lời: "Tôi không thể cư ngụ tại một đất nước mà chính phủ họ đã đâm sau lưng tôi. Tôi tin rằng mọi quỷ sứ ở địa ngục đều chống lại chúng tôi".
Từ đó bà Ngô Đình Nhu không bao giờ qua Mỹ, ngoài lần duy nhứt để trả lời phỏng vấn của đài NBC với thù lao 10000 US để trả chi phí cho việc học của con trai bà.
Bà qua đời lúc 2 giờ sáng ngày 24 tháng 4 năm 2011 tại một bệnh viện ở Roma, Ý, thọ 87 tuổi.
Bà Ngô Đình Nhu đã giúp sức cho tổng thống Ngô Đình Diệm trong 9 năm cầm quyền về mặt trị an trong việc thành lập tổ chức Thanh nữ Cộng Hoà để đoàn ngũ hoá giới phụ nữ nhằm làm vô hiệu sự xâm nhập của cộng sản vào phân nửa số dân miền Nam này. Bà cũng đã kịch liệt lên án các nhà sư thân cộng trong khối Phật Giáo miền Nam lúc đó âm mưu làm suy yếu chế độ Việt Nam Cộng Hoà.
Tiếc thay, vì người Mỹ muốn toàn quyền điều khiển cuộc chiến chống cộng tại VN nên đã tổ chức cuộc đảo chánh giết hai anh em ông Diệm và việc này đưa đến sự sụp đổ của miền Nam 12 năm sau.
Bà Trần Cẩm Hương (Tháng 4 năm 1926 – Tháng 2 năm 1987) là nữ sĩ quan duy nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa mang cấp bậc Đại tá. Bà từng làm Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân nhân kiêm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Nữ Quân nhân từ năm 1965 đến năm 1975.
Bà Trần Cẩm Hương sinh tháng 4 năm 1926 tại Cần Thơ, . Bà là trưởng nữ của kỹ sư Trần Văn Mẹo, cựu Bộ trưởng Bộ Công chánh dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa.
Bà nhập ngũ ngày 21 tháng 8 năm 1952 với số quân 46/100101. Xuất thân từ ngành Nữ Trợ tá Xã hội và sau tốt nghiệp Cán sự Xã hội tại Trường Sĩ quan Nữ Trợ tá Xã hội vào năm 1952. Ngày 5 tháng 1 năm 1965, ngành Nữ Trợ tá được đổi tên thành Đoàn Nữ Quân nhân và chính thức thành lập theo sắc lệnh số 003/QT/SL, trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Cơ sở của Đoàn được đặt ở đường Nguyễn Văn Thoại, Sài Gòn bên cạnh là trường đào tạo nữ quân nhân.
Trần Cẩm Hương lúc đó đang là Thiếu tá được bổ nhiệm làm Đoàn trưởng đầu tiên kiêm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Nữ Quân nhân. Bà giữ chức Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân nhân cho đến ngày 1 tháng 4 năm 1975 thì giải ngũ vì đáo hạn tuổi với cấp bậc Đại tá.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, bà Trần Cẩm Hương bị kẹt lại tại Sài Gòn và phải đi học tập cải tạokéo dài suốt 10 năm dù đã giải ngũ trước đó rồi.
Sau khi ra trại năm 1985, bà bị điều đi lao động ở Hậu Nghĩa, ở một căn chòi lá giữa đồng khô, chịu sự quản chế của vợ một liệt sĩ VC. Do phải lao động nặng nhọc với điều kiện khắc nghiệt, bà đã bị cảm nặng dẫn tới viêm màng não. Tuy gia đình có xin chuyển đi Sài Gòn chữa trị nhưng vì không được cán bộ quản thúc cho phép đi điều trị mà bà đã qua đời do bạo bệnh vào hạ tuần tháng 2 năm 1987, hưởng thọ 61 tuổi.
- Trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn
Nữ Trung tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn sinh năm 1927 tại Huế. Bà nhập ngũ năm 1950, năm 1952 tốt nghiệp trường Sĩ quan Nữ Trợ tá Xã hội; ngành tài chánh, phát lương cho quân nhân ở Quân Đoàn 1. Là thiếu úy rồi trung úy sĩ quan tiếp liệu Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương. Sau đó qua trung tâm huấn luyện và trường Nữ Quân Nhân, rồi lên đại uý làm việc tại văn phòng đoàn Nữ Quân Nhân của Bộ Tham Mưu.
Năm 1969, bà là thiếu tá trưởng Phòng Nghiên Cứu, chuyển qua Không Quân và lên trung tá năm 1972 và là Trung tá phân đoàn trưởng Nữ Quân Nhân quân chủng Không Quân. Bà đã cống hiến 25 năm của tuổi thanh xuân cho quân đội, để rồi sau cùng phải sống nhiều năm trong ngục tù CS,.
Sau Tháng Tư 1975, Cộng Sản bắt bà đi tù và giam giữ nhiều nơi khác nhau: Long Giao, Quang Trung, Z30D, Hàm Tân và Long Thành.
Ra tù, năm 1990 bà định cư ở Hoa Kỳ. Sau khi cuộc sống được ổn định, bà tham gia Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH. Ban đầu, bà là phó chủ tịch hội Tương Trợ Cựu Tù Nhân Chính Trị, làm giấy tờ bảo lãnh cho các cựu quân nhân quân lực VNCH không có thân nhân bảo lãnh, sau đó làm hội trưởng HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH.
Bà đã ra đi vào Tháng Tư đen (18 Tháng Tư 2017).
- Biệt đội trưởng Thiên Nga: Thiếu tá cảnh sát Nguyễn Thanh Thuỷ
Thiếu tá Nguyễn Thanh Thuỷ sinh năm 1943 ở Mỹ Tho.
Năm 1964, bà Nguyễn Thanh Thủy đang theo học Khoa Dược tại Đại Học Sài Gòn phải bỏ ngang vì sức khỏe, sau đó theo học phân khoa Chánh Trị Kinh Doanh và Sư Phạm, Viện Đại Học Đà Lạt. Tuy rất tiếc không khí và môn học đã chọn tại đây, bà phải bỏ học lần nữa vì bị bệnh gout chịu không nổi xứ lạnh, phải trở về Sài Gòn bà thi vào Học viện Cảnh Sát Quốc Gia
Bà xuất thân Khóa 1 SVSQ/HVCSQG. Khóa 1 là khóa duy nhất có khoảng 50 nữ SVSQ vừa biên tập viên, vừa thẩm sát viên theo học.
Muốn vào Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, phải qua cuộc tuyển lựa về nhân dạng, chiều cao, gương mặt, phải đúng tiêu chuẩn. Trong những người thi đậu, cả 18 cô biên tập viên đều về Khối Đặc Biệt, với điều kiện bắt buộc là phải độc thân ít nhất hai năm từ khi vào làm việc.
Ngày 5 tháng 8 năm 1968, Tổng Nha Cảnh sát dựa theo sự vụ văn thư của Bộ Nội vụ đã cho thành lập một tổ chức mang tên Biệt đội Thiên Nga gồm toàn nữ nhân viên trực thuộc Khối Đặc Biệt/Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia, hoạt động độc lập nhưng phối hợp với các đơn vị tình báo khác.[2][3] Nhiệm vụ của đơn vị này là sưu tầm tin tức, tổ chức xâm nhập và phá vỡ các tổ chức hạ tầng của cơ sở Việt Cộng hoạt động tại thủ đô Sài Gòn cũng như tại các tỉnh lỵ địa phương trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Do sự thay đổi của cơ cấu Khối Đặc biệt và để thích ứng với tình hình chính trị phực tạp nên cuối năm 1972, Biệt đội Thiên Nga mang ám danh mới là Đoàn Đặc nhiệm G4231g để bảo mật hoạt động. Đơn vị này vẫn tiếp tục hoạt động bí mật cho tới khi Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975 mới chính thức giải thể.
Biệt đội trưởng Thiên Nga đầu tiên là Trần Thị Kim Hạnh. Kế tiếp là Trần Thị Minh Chánh và sau cùng là Nguyễn Thanh Thủy. Cuối năm 1972, hồ sơ lý lịch của tất cả nhân viên Thiên Nga đã được người Mỹ lưu trữ dưới dạng vi phim và họ đã mang về cất giữ tại Hoa Kỳ.
Ngày 29 tháng 4 năm 1975, khi hay tin vị Tư lệnh và vị Trưởng Khối Đặc biệt đã lên đường di tản, với trách nhiệm bảo mật tuyệt đối cho các công tác và giúp cho sự an toàn tính mạng của các thành viên Thiên Nga, Biệt đội trưởng Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy đã tới Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia Việt Nam Cộng hòa, thu gom toàn bộ hồ sơ liên can đến Biệt đội Thiên Nga và đốt sạch các hồ sơ này thành tro tàn
Trong thời gian hoạt động, bà Nguyễn Thanh Thuỷ được ân thưởng những huy chương:
Đệ Tam Đẳng Chiến Công Bội Tinh, Đệ Nhị Đẳng Danh Dự Bội Tinh.
Bà đã trải qua 13 năm tù ở chung với những thành phần gồm tù chính trị, tù phản động, tù bị tình nghi làm gián điệp bị nhốt trong mật khu trước 1975. Nỗi khổ nào ai biết cho nữ tù cải tạo Án Sầm, trại cải tạo Long Thành hai lần, trại Z30D hai lần, trại Thủ Đức một lần, nhất là trại giam X4 của Bộ Công An một lần. Những ngày tháng tù với các bạn tù đã giúp đỡ bà và các nữ tù qua những cơn đau bệnh ngặt nghèo trong hoàn cảnh thiếu thốn đủ thứ.
Bà được thả về ngày 13 Tháng Hai, 1988 và định cư ở Mỹ theo diện HO.
Ở Hoa Kỳ bà đã tham gia hoạt động trong các hội đoàn người Việt Quốc Gia, đặc biệt bà giữ chức vụ Hội trưởng Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH (nhiệm kỳ 2018-2020). Bà cũng đã xuất bản hai cuốn hồi ký: Biệt Đội Thiên Nga (2018) và Đời tù một Thiên Nga (2023).
Các nữ anh thư hậu duệ
Sau ngày 30/4/1975, trong cảnh tan đàn, xẻ nghé, nhiều triệu công dân nước Việt Nam Cộng Hoà rời bỏ đất nước, phân tán trên khắp quả địa cầu. Tuy vậy, họ vẫn mang trong lòng nỗi nhớ quê hương và mong có ngày quang phục. Những anh thư của Việt Nam Cộng Hoà ngày xưa lần lượt ra đi theo thời gian nhưng thế hệ tiếp theo đã có những anh thư làm vẻ vang phụ nữ Việt Nam trên quê hương thứ hai. Dưới đây là những tên tuổi được mọi người nhắc tới
- Nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh
Dương Nguyệt Ánh sinh năm 1960 tại Sài Gòn, có họ hàng và gia đình từ miền Bắc. Ông nội của cô là nhà thơ và quan chức nổi tiếng dòng dõi cụ nghè Vân Đình Dương Khuê, quê ở làng Vân Đình, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (ngày nay là xã Ứng Hòa thuộc thủ đô Hà Nội). Ngoài ra bà còn có một số họ hàng như quan Dương Thiệu Tường (vị tiến sĩ đầu tiên của khoa thi An Nam), bà cùng vai vế với nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và giáo sư Dương Thiệu Tống, trong khi nhiều người dựa vào tuổi tác cho rằng bà gọi 2 người là bác. Trong gia phả họ Dương, mỗi đời con cháu đều dùng thống nhất một chữ lót khi đặt tên, bên nhánh nam thì lần lượt là Tự, Thiệu, Hồng, Nghiệp, Vi,... và nhánh nữ lần lượt là Hạ, Nguyệt, Vân, Thúy,....
Dương Nguyệt Ánh rời Việt Nam năm 1975 cùng với gia đình bằng trực thăng, trong làn sóng người Việt tỵ nạn Cộng sản sau khi chính thể Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ vào cuối tháng tư và đến được Philippines. Sau một thời gian ở trại tạm cư ở Pennsylvania, Hoa Kỳ, gia đình được định cư ở vùng Washington, DC.
Dương Nguyệt Ánh tốt nghiệp Đại học Maryland ngành kỹ sư hóa học, khoa học điện toán và quốc gia hành chính rồi được tuyển vào làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu của Hải Quân Maryland.
Trong Bộ Hải quân Hoa Kỳ Dương Nguyệt Ánh nhậm chức Giám đốc Khoa học và Kỹ thuật (Director of Science and Technolgy) của chi nhánh Indian Head Division thuộc Trung tâm Vũ khí Hải quân Hoa Kỳ(Naval Surface Warfare Center) tại Maryland, tiểu ban chất nổ với nhiều giải thưởng. Bà từng là người đại diện cho Hoa Kỳ trong lãnh vực chất nổ tại Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương(NATO). Bà cũng là tác giả của bom áp thấp nhiệt đới. Do đó bà được mệnh danh là “Bomb Lady”.
Năm 2005, bà được cử về Bộ Quốc phòng Mỹ làm cố vấn khoa học cho phó Đề Đốc Hải Quân Hoa Kỳ về thông tin và chiến thuật tại Ngũ Giác Đài.
Năm 2008 bà được bổ nhiệm làm Giám đốc An ninh Biên giới và Lãnh hải (Director of the Borders and Maritime Security division) thuộc nha Khoa học và Kỹ thuật (Science and Technology Directorate) của Bộ Nội an Hoa Kỳ (Department of Homeland Security).
Ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh (tên thật là Nguyễn Thị Nguyệt Ánh) là con của đại tá Nguyễn Văn Y, tổng giám đốc cảnh sát quốc gia thời đệ nhứt VNCH di tản sang Mỹ năm 1975. Bà tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội và phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ tại Việt Nam. Bà còn được biết đến là tác giả của nhiều ca khúc đấu tranh.
- Năm 1975, bà cùng gia đình di tản sang Mỹ và định cư tại tiểu bang Virginia.
- Cùng với cố nhạc sĩ Việt Dzũng và những người khác, bà thành lập phong trào Hưng Ca và tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tranh đấu cho tự do dân chủ trong nhiều thập niên.
- Bà là tác giả của nhiều ca khúc có nội dung đấu tranh như:Nguyệt Ánh và cố nhạc sĩ , MC Việt Dzũng là một cặp song ca nổi tiếng với những bản nhạc tranh đấu trình diễn ở khắp nơi trên đất Mỹ và trên thế giới.
- Anh Vẫn Mơ Một Ngày Về (Em Vẫn Mơ Một Ngày Về)
- Cái Cò
- Bài Ca Hội Ngộ
- Bài Ca Nhân Bản
- Bài Hát Chống Xâm Lăng
Cha cô là cựu Đại uý Hải quân VNCH Vũ Thế Hiệp. Thùy Anh ra đời đúng vào năm Mậu Thân 1968, giữa cơn lửa bỏng của chiến tranh. Năm 1975, khi mới lên 7, cô cùng gia đình sang Mỹ tị nạn cộng sản.
Thùy Anh theo học ngành Dược tại đại học University of Maryland. Ra trường năm 1994, cô làm việc cho đại học Johns Hopkins University một thời gian. Là chị cả, cô có ba người em trai đều ra trường làm Bác Sĩ: Vũ Thế Duy Anh (BS Quang tuyến); Vũ Thế Tuấn Anh (BS Cấp cứu); Vũ Thế Quốc Anh (BS Nhãn khoa). Nhưng chỉ mỗi mình cô, Vũ Thế Thùy Anh, là người duy nhất theo chân Bố chọn đường binh nghiệp.
Năm 2003, Dược sĩ Vũ Thế Thùy Anh gia nhập U.S. Public Health Service (PHS) Commissioned Corps và trở thành một sĩ quan y tế trong binh chủng Hải Quân. PHS tuy ngày nay là một bộ phận của Bộ Y Tế (Department of Health and Human Services) nhưng nó được tổ chức giống như quân đội vì nguồn gốc là các bệnh viện của Hải Quân Mỹ từ cuối thế kỷ 18 do Tổng thống John Adams khởi xướng.
Tiền thân của PHS ra đời năm 1798, đến năm 1889 nó được quân đội hoá với một chuỗi các bệnh viện Hải Quân đặt tại các thành phố cảng quan trọng như Boston, Charleston, New Orleans… để kiểm soát dịch bệnh thâm nhập vào nước Mỹ. Thành viên của PHS là những nhà chuyên môn trong các ngành y tế như bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, y tá v.v… Họ được huấn luyện để trở thành sĩ quan (commissioned officers) phục vụ cho cộng đồng khi có thiên tai bão lụt hay bệnh tật v.v…
PHS có nhiệm vụ cách ly và kiểm soát bệnh truyền nhiễm trước khi nó bùng nổ và phát tán ra khắp cả nước. PHS đã đóng một vai trò quan trọng trong trận đại dịch Spanish Flu thời Đệ Nhất Thế Chiến (1918). Hiện nay PHS đang làm việc cùng các cơ quan liên đới như CDC (Centers for Disease Control) để đối phó cơn dịch COVID-19.
Sau 12 năm phục vụ trong PHS, cô Vũ Thế Thùy Anh được lên lon Đại Tá vào năm 2015. Đến tháng Sáu năm 2019 cô được thăng cấp Rear Admiral
Bà đến Hoa Kỳ cùng gia đình với tư cách là người tị nạn vào cuối Chiến tranh Việt Nam năm 1975, khi mới 3 tuổi. Bà gia nhập Lục quân năm 1989 và được phong quân hàm sĩ quan sau khi tốt nghiệp
Chuẩn tướng Danielle Ngô tốt nghiệp cử nhân ngành tài chánh tại đại học Massachusetts. Cô cũng đã hoàn tất 2 văn bằng cao hoc tại trường chỉ huy và tham mưu (Command and General Staff College) và đại học Georgetowns. Ngoài ra, cô cũng đã thụ huấn các khóa học quân sự như: khóa căn bản và cao cấp sĩ quan công binh; khóa CAS3 tại trường chỉ huy tham mưu và trường cao cấp quân sự (School for Advanced Military Studied).
Bà đã phục vụ trong nhiều vai trò lãnh đạo và chỉ huy, bao gồm chỉ huy Lữ đoàn Công binh 130 (130th Engineer Brigade) và làm Tham mưu trưởng (Executive Officer) cho Tổng thanh tra Lục quân Hoa Kỳ tại Ngũ Giác Đài.
Hơn 29 năm phục vụ trong lục quân Hoa Kỳ, đại tá Danielle Ngô được ân thưởng nhiều loại huy chương cao quý như: Legion of Merit, Bronze Star Medal (2), Defense Meritorious Service Medal, Meritorious Service Medal, Joint Service Commendation Medal, Army Commendation Medal (3), Joint Service Achievement Medal (3), Army Achievement Medal (5), Joint Meritorious Unit Award (2), Valorous Unit Award, Army Superior Unit Award (3), Army Reserve Component Achievement Medal, National Defense Service Medal (2)… và một số huy chương cao quý khác.
- Trung tá Elizabeth Phạm
Elizabeth Phạm sinh năm 1978, cô tốt nghiệp đại học University of San Diego. Sau đó cô thụ huấn tại trường sĩ quan TQLC, và được tuyển chọn thụ huấn ngành phi công TQLC trở thành phi công chiến đấu cơ F-18. Cô đã từng phục vụ trong các phi đoàn chiến đấu cơ F-18 của không quân TQLC vùng Thái Bình Dương. Từ năm 2006 đến năm 2008, cô đã bay 130 phi vụ yểm trợ tiếp cận, yểm trợ cho các đơn vị bộ chiến TQLC tại chiến trường Trung Đông, đặc biệt là tại Iraq. Sau đó cô được thuyên chuyển về phục vụ tại bộ quốc phòng trong vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Các nhiệm sở tiếp theo, cô phục vụ trong một phi đoàn chiến đấu cơ F-18 TQLC tại Nhật Bản, và đơn vị không quân TQLC tại căn cứ Camp Pendleton, San Diego.
Từ năm 2022-2023, Trung tá Elizabeth Phạm tu nghiệp tại trường đại học hải chiến hải quân Hoa Kỳ ( United States Naval War College ), niên khoá 2022-2023.
Trung tá Elizabeth Phạm được thăng cấp thiếu tá năm 2011, trung tá năm 2019. Trong suốt thời gian phục vụ TQLC, cô được ân thưởng nhiều loại huy chương cao quý của TQLC và hải quân Hoa Kỳ. Tháng 6 năm 2023, cô thắng giải thưởng danh dự nghiên cứu AFCEA về đề tài: “Khám phá hệ thống vũ khí an ninh mạng xã hội: Phòng thủ chống lại ‘Vũ khí thuyết phục đại chúng'” của Trung Quốc”, từ giải thưởng học thuật cho niên khoá 2022–2023 của đại học hải chiến hải quân Hoa Kỳ ( United States Naval War College ).
Lời kết: Ở Việt Nam, để ru ngũ giới nữ lưu quên đi việc tiến thân trong các lãnh vực kinh tế, chánh trị, kỹ thuật, giáo dục, quân sự…để sánh vai cùng nam giới, các phương tiện truyển thông nhà nước ngày ngày phổ biến những bản tin về những ca sĩ, diễn viên, người mẫu… với những chi tiết cá nhân về các mối tình, các tài sản: nhà, xe, trang sức…và dĩ nhiẻn về nhan sắc. Ảnh hưởng trên các cô gái Việt Nam: sửa sắc đẹp (thẩm mỹ viện ở Việt Nam mọc lên như nấm), ăn mặc hở hang, khêu gợi để được lọt vào mắt một “đại gia” rồi những thứ mình muốn sẽ có được.
Nhưng trong xã hội Việt Nam Cộng Hoà ngày trước và trong cộng đồng người Việt hải ngoại ngày nay, người phụ nữ Việt Nam vẫn hãnh diện mình là con cháu bà Trưng, bà Triệu vì trong hàng ngũ của họ đầy rẩy những bậc anh thư.
Huỳnh Công Ân
15/11/2025
Tài liệu trích dẫn từ các nguồn:
- Wikipedia tiếng Việt
- Người Việt online
- Việt Báo
- Dòng sông cũ
- Nghĩa Thục
