
(Hình minh họa sưu tầm do Thầy
Diệp Cẩm Thu, chs NQ khóa 7, học trò cũ của Thầy Cù An Hưng ở Đại học Khoa học
Sài Gòn năm 1970, trích từ nguồn: thunhan.wordpress.com)
MGTT số 13
xin được giới thiệu về Thầy Cù An Hưng
một giáo sư Toán tài năng được biết đến gần như ở cả nước Việt Nam với sự
nghiệp giảng dạy dài cả nửa thế kỷ.
Thầy Cù An
Hưng chỉ dạy ở Ngô Quyền một niên khóa duy nhất (nk 1962-1963) nhưng ảnh hưởng
của Thầy đối với các học sinh đệ nhất B (lớp mười hai chuyên toán) kéo dài đến
suốt cả cuộc đời của các “anh chị cả” (các chs NQ khóa 1)
Hai
bài viết đặc biệt được giới thiệu lần này không phải là của học trò đã được
Thầy Hưng trực tiếp giảng dạy mà là của một nhà báo chuyên nghiệp đã có nhiều
năm trong nghề, -đang viết cho một tờ báo lớn ở Sài Gòn hiện nay-, và của một
thành viên Ban Biên tập được các đàn anh đàn chị kể lại những kỷ nìệm đáng nhớ
nhất cùa họ với vị giáo sư Toán tài năng và có cá tính mạnh mẽ.
BBT xin
được cám ơn sự đóng góp của các chs NQ (khóa 1,8,11, 13 và 17) ở khắp nơi trên
thế giới cho MGTT về Thầy Cù An Hưng. Đặc biệt cám ơn các anh
Trương Đức Hoàng ở Úc, Phạm Kim Luân ở Hòa Lan, Ngô Càn Chiếu
ở Pháp, Lâm Sĩ Đắt ở Texas (Mỹ), Đào Văn Công, và chị Trần Kim Lan ở Kentucky
(Mỹ).
Ước mong
trong tương lai, sẽ được thêm sự đóng góp quý báu của các chs NQ khác để chúng
ta cùng có dịp nhìn lại thời mới lớn để nhận ra “công Cha nghĩa Mẹ ơn Thầy” có
mặt trong mọi thành đạt của đời người.

Thầy Cù An Hưng và thầy Diệp Cẩm Thu
THẦY CÙ AN
HƯNG – TẤM LÒNG VÀ TINH THẦN TOÁN HỌC
Nguyễn
Trần Diệu Hương
Chữ C là biểu tượng hằng số C bất biến trong tích
phân (minh họa nguồn: www.cyvee.com)
Lúc đứng trên bục giảng Ngô Quyền, Thầy Cù An Hưng chỉ hơn các anh chị chs NQ khóa 1
khoảng sáu hay bảy tuổi, nhưng nền giáo dục với tinh thần “nhất tự vi sư bán tự
vi sư” thời đó khiến các anh chị đệ nhất B (12B) luôn luôn “trông lên ngước mắt chào” thầy Hưng.
Những giờ Toán của Thầy dù khô khan nhưng rất cuốn hút học trò. Theo các “anh
chị cả” kể lại, giờ Giải tích của Thầy Hưng rất sinh động vì Thầy vừa có kiến
thức uyên thâm vừa có khả năng truyền đạt rất lôi cuốn. Lúc đó, dù còn rất trẻ,
chưa đến ba mươi, Thầy Hưng đã có chân trong Ủy Ban Tu Thư các danh từ toán học
của Bộ Giáo dục.
Rời
Ngô Quyền, thuyên chuyển về Sài Gòn, Thầy Hưng là một trong những giáo sư Toán
chính yếu ở trường tư Trường Sơn, được
các cô cậu tú (tài) tương lai lúc đó biết đến như Trung tâm luyện thi Trường
Sơn, một nơi dạy luyện thi môn Toán rất nổi tiếng.
“Duyên nợ” giữa
Thầy Hưng với trường Ngô Quyền thì ngắn nhưng “duyên nợ” giữa Thầy với chs Ngô
Quyền thì kéo dài mãi cho đến bây giờ.
Đầu thập niên 70s, nhiều anh chị “ôm mộng” vào trường Đại học Phú Thọ hay Học
viện Quốc gia Hành chánh, mùa hè, hoặc cuối tuần “khăn gói” lên Sài Gòn học
thêm Toán Lý hóa ở trung tâm Trường Sơn với Thầy Hưng. Theo các chs NQ khóa 13
cho biết lớp luyện thi của Thầy Hưng bao giờ cũng đầy ắp, học sinh chen chúc
nhau vì danh tiếng của thầy Hưng, và cũng vì kết quả thực tế, đa số học sinh
(thường là những hs giỏi nhất ở các trường Trung học công lập) học thêm Toán Lý
hóa ở Trường Sơn đều đậu vào được những trường Đại học nổi tiếng ở Saigon.
Có lần, một chị Gia Long, đến học thêm ở Trường Sơn,
ngồi bàn đầu làm rớt cái khăn tay, một anh Ngô Quyền ngồi bên cạnh đang chăm
chú vào những phương trình lượng giác trên bảng không để ý đến chuyện rớt khăn
của người bạn kế bên. Chị Gia Long cúi xuống nhặt khăn, anh Ngô Quyền ngồi bên
cạnh vẫn thả hồn theo những “cos, cos,
sin, sin” dày đặc trên bảng. Điều đó lọt
vào mắt thầy Hưng, Thầy ngưng nói về Toán học, chuyển qua Tâm lý học. Và nhờ
ngẫu nhiên tình cờ đó, các cô cậu tú tương lai của niên học 1974-1975 hôm đó
được thầy Hưng dạy về tính “galant” của
phái nam đối với phái nữ. Hơn ba thập niên trôi qua, các chs NQ khóa 13 có mặt
trong lớp học hôm đó đều nhớ lời thầy Hưng và rất là “galant” với đàn bà con
gái: chẳng hạn như phái nam phải cúi xuống nhặt đồ đánh rơi giùm cho các bà,
các cô; mở cửa xe cho phái nữ lên trước khi tự mở cửa xe cho mình; luôn luôn
nhường cho phái yếu quyền ưu tiên….
Đến giữa thập niên 80s, một học sinh Ngô Quyền lên Sài
Gòn ghi danh theo học lớp luyện thi Toán của Thầy Cù An Hưng ở trung tâm Trương
Sơn. Không may, lớp của Thầy Hưng đã hết chỗ từ lúc nào.
Buồn bã, anh quay về Biên Hòa, kể chuyện cho Ba Mẹ
nghe. Ba Mẹ của anh là chs Ngô Quyền khóa 1 và là học trò ở đệ nhất B (12B) của
Thầy Hưng năm xưa. Thế là hôm sau, hai chs NQ khóa 1 đến trung tâm luyện thi
Trường Sơn, kiên nhẫn ngồi ở sân trường chờ Thầy Hưng dạy xong, mục đích là xin
cho “thế hệ thứ hai” của NQ được vào học
lớp thầy Hưng.
Cuộc trùng phùng của ông thầy trẻ năm xưa và hai anh
chị cựu hs đệ nhất B Ngô Quyền diễn ra rất cảm động ở sân trường của trung tâm
luyện thi Trường Sơn. Dù hơn phần tư thế kỷ đã trôi qua, dù đã có đến cả chục
ngàn học trò, nhưng những người học trò đầu tiên (cũng như tất cả mọi thứ đầu
tiên khác ở trên đời) có một vị trí đặc biệt trong lòng thầy Hưng. Nhất là
trong trường hợp này, cả anh chị đều là học trò thầy Hưng, Anh đã một thời lặn
lội ở chiến trường chịu nhiều gian khổ để đổi lấy sự an bình cho rất nhiều
người khác; Chị nối nghiệp thầy Hưng, cũng là một cô giáo dạy Toán ở trung học
Đệ nhất cấp.
Thế là “hậu duệ của các chs NQ khóa 1” được vào lớp
thầy Hưng dù tên của học sinh này nằm ở gần cuối cái “waiting list” dài vài
trang của lớp thầy Hưng. Không phụ lòng của cả cha mẹ lẫn thầy Hưng, em học
sinh được thầy Hưng đưa thêm vào lớp học đã kín chỗ của Thầy, đã đậu vào trường
Đại học Kiến trúc trong kỳ thi Đại học năm đó.
Thầy Hưng là một
người có cá tính rất độc đáo. Có lần, Thầy đã thẳng thắn phê bình một đồng
nghiệp dạy Toán ở trường Đại học Tổng hợp khoảng cuối thập niên 70. Ông đồng
nghiệp từ “ngoài Bắc vô Nam” còn say men chiến thắng 75, huênh hoang về trình
độ Toán của mình (tốt nghiệp từ một học viện có âm thanh "leng keng, lốp
cốp"), vô tình đã giải sai một đề thi dành cho hs giỏi Tóan toàn quốc mà
không biết. Thầy Hưng thẳng thắn phê bình:
- Đã làm Thầy thì phải biết mình đúng sai chỗ nào. Và
nếu sai phải biết cách sửa lại cho
đúng.
Vài ngày trôi qua, sau khi được chỉ chỗ sai, người
chiến thắng đã bớt huênh hoang vì thấy là “mình đã giỏi luôn luôn có người giỏi
hơn mình”. Thầy Hưng không những dạy Toán cho học trò mà đôi khi còn “dạy” cho
cả đồng nghiệp nhất là những người chuyển vào từ miền Bắc.
Nhưng câu chuyện cảm động nhất có lẽ là câu chuyện về
Nguyễn Thanh Vũ, một cậu học trò rất thông minh của thầy Hưng. Năm đó, giữa
thập niên 80s, Vũ đến học luyện thi ở Trường Sơn, được thầy Hưng đặc biệt chú
ý, vì vượt lên mọi khó khăn của gia đình, Ba còn đang “học tập cải tạo” ở miền
Bắc, Mẹ bệnh nặng, mất sức lao động, gánh nặng gia đình đè lên vai em, nhưng Vũ
vẫn học hành rất xuất sắc và đậu thủ khoa trong kỳ thi tuyển sinh vào phân khoa
Toán Đại học Sư phạm năm đó. Vì chính sách tuyển sinh đương thời dựa trên lý
lịch, nguồn gốc gia đình nhiều hơn là dựa trên tài năng, Vũ mặc dù đạt điểm
tuyệt đối 30/30 nhưng không được gọi nhập học. Thầy Hưng rất bất bình vì chuyện
đó, và biết rõ tài năng và sự thông minh của Vũ. Trong một lần đi họp ở Hà Nội
về cập nhật giáo trình Toán học cho chương trình Đại học, thầy Hưng chính thức can
thiệp ở Bộ Đại học & Trung học chuyên nghiệp để Nguyễn Thanh Vũ, một người
đạt điểm thi tuyệt đối được vào học ở
Đại học Sư phạm Sài Gòn. Vì uy tín và những đóng góp
của Thầy Cù An Hưng cho chương trình Toán ở Việt Nam, Vũ nhận được giấy
báo nhập học trễ vào khoa Vật lý (thay cho khoa Toán mà em đã nộp đơn thi vào).
Là một học sinh xuất sắc, dù vào học khoa Lý, Vũ vẫn vượt lên trên tất cả các
sinh viên cùng khóa. Bốn năm sau, Nguyễn
Thanh Vũ, một lần nữa, đậu thủ khoa trong kỳ thi tốt nghiệp khoa Toán Lý Đại
học Sư phạm Sài Gòn cũng với điểm tuyệt
đối như lúc thi vào. “Lịch sử” lập lại, trong trường hợp này buồn nhiều hơn
vui, khi tất cả các bạn cùng khóa,- kể cả những người đậu vớt hoặc những người
được cộng thêm "điểm từ trên trời
rơi xuống" nhờ thành phần gia đình -, đã nhận nhiệm sở, Vũ vẫn ở nhà “ngồi
chơi… xơi … không khí” vì Ba em vẫn đang còn trong trại cải tạo.
Lần này không gõ được "cửa công" ở Hà
Nội, thầy Hưng gõ "cửa tư" ở Saigon. Lúc đó, vì danh tiếng cừa
Thầy Hưng được những người dạy và học Toán ở trong nước biết đến, nhiều trường
tư ở Sài Gòn nhiều lần mời thầy Hưng về dạy. Thầy vẫn từ chối, nhưng lần này
Thầy đồng ý dạy cho một trường tư lớn ở Sài Gòn với “điều kiện ắt có và đủ” là
muốn Thầy nhận lời dạy, trường phải mời Nguyễn Thanh Vũ vào dạy Vật lý. Với uy
tín, và “sự bảo lãnh” của Thầy, Vũ được vào dạy Vật lý ở một trường tư lớn, trở
thành đồng nghiệp của Thầy Hưng nhưng lúc nào cũng nhìn Thầy như một ông Thầy,
một ân nhân lớn trong đời.
Mỗi một "cơn mưa màu xanh" chưa đủ sức
làm mát dịu thời tiết nóng bức ở Saigon nhưng đã vực dậy được niềm tin cho
những ai còn kỳ vọng ở một ngày mai tươi
sáng hơn của một thế hệ Việt Nam lớn lên sau chiến tranh
Đó
là một trong những chuyện đặc biệt trong nửa thề kỷ đi dạy của Thầy Cù An Hưng. Thầy đã dạy cho ba thế hệ học trò, mà hai
trong ba thế hệ đó là chs NQ.
Ước mong những người học trò giỏi sau
này của Thầy Hưng sẽ nối nghiệp được
Thầy cả về trình độ chuyên môn lẫn cách ứng xử tốt đẹp với cuộc đời, với con
người. Cầu mong xã hội Việt Nam luôn tôn trọng chất xám hơn những thứ khác. Vì
trong công cuộc xây dựng đất nước, chất xám Việt Nam sẽ góp phần quan trọng
nhất. Hy vọng sẽ có được nhiều người đưa
môn Toán vào cuộc đời để đất nước có được nhiều nhà khoa học, nhiều nhà máy
công nghiệp, để Việt Nam có thể trở lại thành "minh châu trời Đông".
Nguyễn Trần Diệu Hương – CA - USA
THẦY CÙ AN HƯNG - TÌNH YÊU THI CA & NHÂN CÁCH NHÀ GIÁO
Trần Tiến
Dũng
Một góc Lữ Gia - nhà thờ Hầm cách nay vài năm, thầy Cù An Hưng lúc không có giờ dạy học thường
ghé sạp bán báo của tôi. Lúc đó tôi bán báo để kiếm sống, còn thầy ghé chỗ tôi
để sống với tình yêu lớn của đời thầy: tình yêu thi
ca.
Có
lần thầy Cù An Hưng kể với chất giọng Bắc nhỏ tiếng nhưng âm vực rất vang. Và
câu chuyện thầy kể cũng chỉ để kể, không nhằm tìm tới một chuyện truyền đạt
kiểu ôn cố tri tân nào:
“Bọn chúng tôi lúc trước
dạy ở trường Tư Thục Trường Sơn. Mà này, cậu phải biết là các thầy người Bắc di
cư có công mở trường tư ở trong này. Bọn chúng tôi dạy toán, các anh Thanh Tâm
Tuyền, Doãn Quốc Sĩ… dạy văn. Giờ giải lao, cùng là giáo sư, ngồi chung một
phòng giáo sư, suốt chừng ấy năm chúng tôi chưa từng vô lễ bước qua bàn các anh
ấy. Thường là ngồi bên này cung kính trân trọng lắng nghe từng lời các anh ấy
nói về văn chương. Được nghe văn chương từ các anh ấy là ý thức mình
gieo mở hạnh phúc và tìm thấy tự do”.
Sau này, thầy không kể thêm câu chuyện nào nữa về các vị văn
gia lớn đó, nhưng ý nghĩa từ mẩu chuyện của thầy cho tôi một niềm tin rõ ràng
rằng, các vị viết văn ngày nay không được trân trọng như đáng ra họ phải được,
không được trân trọng vì lẽ, các nhà văn ngày nay không nhận thức được việc
chính mình phải tự trọng trong ý thức tôn trọng văn chương hơn là mong đợi ở xã
hội.
Lần khác tôi được chứng kiến sự trân trọng của thầy ở một
giới quan hệ xã hội khác. Sạp báo của tôi kê bên cạnh một tiệm phở, tiệm phở
này có mùi vị của hủ tiếu bò trong khi thầy là người Bắc. Trong nhiều năm đến
chỗ tôi, thầy chưa bao giờ thử ăn qua phở Nam, dù quán phở này bán khá đắt
khách. Sạp báo tôi chỉ có một cái ghế nhựa thấp, lần nào thầy đến, cô chủ quán
phở cũng bước ra cầm theo cái ghế nhựa loại có chỗ tựa lưng để mời thầy ngồi và
lần nào thầy cũng nói cám ơn cô. Tiếng cám ơn trân trọng vì chuyện mượn một cái
ghế được một ông thầy dạy đại học nói với cô bán phở chưa học qua lớp năm, và
được lặp đi lặp lại không một lần quên trong suốt nhiều năm. Những hôm cô bán
đắt hàng không kịp nhận ra thầy mới ghé, thầy bước đến gần cô chủ quán hỏi mượn
cái ghế, cô chủ quán nhiều khi chỉ gật đầu với thầy nhưng lúc nào thầy cũng nói
cám ơn trước khi cầm cái ghế. Có nhiều hôm tôi thấy thầy với y phục chỉnh tề
đứng thật lâu chỗ cô đang nấu phở, những hôm như vậy tôi biết là cô bán phở lu
bu chưa nói tiếng dạ, hoặc chưa gật đầu với thầy về chuyện mượn cái ghế.
Tôi sẽ không nói sâu về văn chương, thi ca và những giá trị
lớn của văn học… Tôi chỉ muốn nói qua những mẩu chuyện bình dị tôi nhận từ thầy
và tôi có được tấm gương lớn để luôn soi cá nhân mình vào người khác bằng cả sự
trân trọng. Sẽ là vu vơ khi nói về tính tự trọng của con người mà không nhìn
thấy rằng cá tính cao quý đó, của bất kỳ ai, chỉ sáng rõ khi phẩm chất và những
quyền cơ bản của họ được người khác và cộng đồng trân trọng.
Với thầy, thầy không đặt điều kiện ai đó lúc giao tiếp với
thầy có lòng tự trọng hay không, thầy chỉ giữ chuẩn mực ứng xử trân - trọng -
cám - ơn những người mà mình sống chung đụng hàng ngày giữa đời thường.
Gặp những ngày trong tiết tháng Tám (Âm Lịch), trời Sài Gòn
thường mưa nhỏ rả rích vào buổi sáng. Những hôm như vậy, cây dù che sạp báo của
tôi không thể phủ được để thầy khỏi ướt, tuy nhiên không vì ngày mưa mà vắng
bóng các ông, các bà mà tôi không biết mặt, biết tên tấp xe gắn máy vào chỗ sạp
báo, họ không phải ghé để mua báo, họ ghé vô chỉ để cúi đầu thưa thầy Cù An Hưng.
Có lần thầy nói với tôi:
“Tôi trông họ già hơn cả tôi nữa đấy phải không cậu. Cậu
nhìn lại tôi xem nào, có già đến thế không nào!” Lần khác thì thầy lại nói:
“May đấy cậu ạ, các anh, các chị ấy mà dừng lại hỏi chuyện lâu, phát hiện
tôi không nhớ được tên các anh chị ấy, thế là thất lễ!”
Lúc di cư vào Sài Gòn, thầy mới là một học sinh trung học,
nhưng không lâu thầy đã bắt đầu cuộc đời dạy học. Thời đó có nhiều người học
muộn, riêng thầy thì nhảy lớp ở bậc trung học nên lúc đứng trên bục giảng thầy
chỉ mới hai mốt tuổi. Thầy, tự bỏ nhiều cơ hội mà thế giới trí thức dành cho,
để chọn nghề dạy học, viết sách. Thầy nói, nỗi buồn lớn của thầy là phụ lòng kỳ
vọng những bậc thầy truyền đạt tình yêu toán và
muốn thầy theo đuổi chuyên sâu toán học. Nhưng có một nỗi buồn da diết mà tôi
cảm nhận được ở thầy, đó là việc thầy không dành tuổi xuân cho tình yêu văn chương - thi ca. Với thầy, tình yêu này
là thứ báu vật đồng hành với quả tim trong ngực mà thượng đế đã ban tặng.
Chọn nghề dạy học
nghĩa là thầy đã đi vào trọn vẹn dòng sông lớn nhất, nơi người thầy như những
con tàu chở bản năng con người vươn tới sóng gió trí thức, ánh sáng nhân cách,
nơi mỗi người học trò là một thuỷ thủ, mỗi người thầy là một người thuyền
trưởng, cùng chia sẻ nhiều lần cái chết bản năng trong những đại
dương hoang dã để phục sinh đúng tầm vóc văn minh người.
Tôi không biết nhiều về
chuẩn mực quan hệ thầy trò của các bậc trí thức được ví như kỳ lân - phượng
hoàng của thế hệ trí thức lớn xưa kia, nhưng với thế hệ thầy Cù An Hưng và lớp
kế cận thầy những năm trước 1975 thì tôi có biết qua. Ở sạp báo tôi ngày ấy có
một người học trò của thầy Cù An Hưng, ông thỉnh thoảng đến và dừng lại với
thầy lâu hơn những người khác. Ông đi một chiếc xe Honda cũ, dáng người thấp bé
và tóc đã bạc trắng đầu. Dù ông không còn dạy học nữa nhưng lần nào cũng vậy,
ông đến chỉ để kể về học trò của ông cho thầy Cù An Hưng nghe. Giữa đời sống đô
thị trùng trùng cấu thành và trùng trùng tàn lụi này, hai vị thầy nhắc cho nhau
nhớ về học trò. Với tôi, những người từng thụ hưởng sự giáo huấn của hai thầy
ngày nay không biết tồn tại nơi đâu! Tôi chỉ biết là những lúc ấy hai gương mặt
thầy giáo già hiện ra một vẻ đượm buồn.
Tôi không gọi cái tình trạng
u ẩn buồn đó là hào quang, nhưng nỗi buồn lan toả của hai vị thầy thật sự là
thứ ánh sáng của đời sống ký ức dạy học mà từng mạch cảm xúc buồn đó đang soi
tìm lớp lớp học trò cũ của mình.
Trong biển mịt mùng quên lãng, không một vị thầy nào để thất lạc
học trò mà chỉ có những người học trò phũ phàng thổi tắt trong lòng thầy ánh
sáng hy vọng.
Trần Tiến Dũng (Sài Gòn, Việt Nam)