|
Năm 2002, gặp lại thầy Nguyễn Văn
Phú trong buổi họp mặt CHS Ngô Quyền lần đầu tiên tại nhà hàng Regent West,
hình ảnh Thầy với mái tóc bạc trắng và dáng dấp gầy gầy đã khiến tôi xúc động
và gợi nhớ ngay đến bài hát “Ông lái đò” mà Thầy đã hát trong dịp Tất niên của
lớp Tứ 1 chúng tôi năm nào. Nhân cơ hội, tôi đã mời Thầy lên hát lại bài này
cho mọi người cùng nghe. Thầy có vẻ ngạc nhiên và rất xúc động bảo rằng: “Vì tuổi
tác và quá mỏi mệt sau những năm cải tạo nên đã quên lời hát, xin đọc 4 câu thơ
để cho tròn tình nghĩa”. Bốn câu như sau:
“Đò chìm, ông lái bơ vơ,
Bỏ thuyền, xa bến, ngẩn ngơ nỗi sầu,
Triều dâng sóng vỗ bạc đầu,
Khói sương hư ảo nhuốm màu tang thương”*
Từ đó, những lần sinh hoạt của Hội
Ái Hữu Cựu Học Sinh Ngô Quyền sau này luôn có mặt Thầy với những lời hướng dẫn
thân tình, thắm thiết.
Thầy Phú là giáo sư
dạy môn Quốc Văn lớp Tứ 1 chúng tôi, niên khóa 69-70. Niên khóa 69-70 là niên
khóa đáng ghi nhớ nhất của đám học trò đệ Tứ vì đó là năm cuối cùng của bậc
trung học “đệ nhất cấp”, để
sang năm tới tùy theo việc chọn ban A, B, C sẽ chia tay nhau lên “đệ nhị cấp”.
Nhưng một lẽ đặc biệt hơn nữa, đó cũng là năm cuối cùng để rồi năm sau hệ thống
giáo dục của toàn quốc đổi thành hệ 12 cấp lớp gồm trường tiểu học từ lớp 1 đến
lớp 5 (thay vì lớp năm, tư, ba, nhì, nhất), trường trung học từ lớp 6 đến lớp
12 (thay vì đệ thất, lục, ngủ, tứ, tam, nhị, nhất) và bỏ hẳn tên gọi “đệ nhất cấp”
và “đệ nhị cấp” ở bậc trung học. Vì vậy, Thầy trò chúng tôi đã tổ chức vài cuộc
đi du ngoạn trong cái năm “bản lề” này thật vui vẻ và đầy thú vị!

Thầy Nguyễn Văn Phú và lớp Tứ 1 (1970)

Thầy Trần Văn Phúc, Thầy Nguyễn Viết Long, Thầy Nguyễn Văn Phú và lớp Tứ 1 (1970)
Mỗi lần gặp lại Thầy
là tôi nhớ đến những giờ học cũ khi cả lớp say sưa nghe thầy giảng Truyện Kiều
của Nguyễn Du, một tác phẩm mà Thầy rất tâm đắc và thường gọi bằng cái tên “Đoạn
Trường Tân Thanh”, nhớ đến 2 khuôn mặt đặc biệt mà Thầy đã đặt tên cho sau khi
giảng trích đoạn tả tài sắc hai chị em Kiều. Chị Trương thị Thúy (Thúy Kiều),
và Nguyễn thị Hiệp (Thúy Vân). Chị Thúy (gọi là chị vì tuy học cùng lớp nhưng
chị cao lớn và hơn chúng tôi một, hai tuổi gì đó) hiện đang ở Việt Nam mà lần về
thăm vào năm 2002, lúc họp mặt bạn bè cũ, tôi có gặp. Chị vẫn mặn mà, sắc sảo
như Thúy Kiều trong câu “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” và Hiệp, hiện
đang ở San Jose, chúng tôi cũng đã có dịp hàn huyên, tíu tít trong lần họp mặt
NQ năm 2004 ở SanJose, vẫn khả ái, xinh tươi như Thúy Vân với “Khuôn trăng đầy
đặn nét ngài nở nang”. Thời gian không làm thay đổi nhiều hai gương mặt đẹp
“tiêu biểu” của lớp chúng tôi.


Gặp Thầy, lại nhớ đến
giờ Văn học sử, khi giảng về dòng văn học lãng mạn, Thầy chuyển sang đề tài
“Nghi án TTKH” khởi đầu với bài thơ “Hai sắc hoa Tigôn” khiến cả lớp xôn xao. Với
lối kể chuyện sinh động và lôi cuốn, Thầy biến giờ Văn học sử vốn khô khan trở
thành một buổi tranh luận về “huyền thoại” tên của tác giả ba bài thơ “Hai sắc
hoa Tigôn, Bài thơ đan áo và Bài thơ cuối cùng” mà cho đến bây giờ vẫn chưa biết
rõ là ai? thật hào hứng, sôi nổi khiến cả lớp say mê theo dõi. Đến lúc chuông
reo, câu chuyện vẫn chưa dứt, chúng tôi đành tiu nghỉu đứng lên khi
Nguyễn thị Thúy (Thúy Kiều) Nguyễn Thị Hiệp (Thúy Vân)
nghe Thầy hẹn
đến… tuần sau sẽ tiếp. Sau buổi đó, không biết có bao nhiêu đứa bạn đã mê thơ
TTKH như tôi? Nhưng tôi nhớ mình đã chạy ngay ra nhà sách Huỳnh Hiệp “bê” ngay
một bộ “Việt nam Thi Nhân Tiền Chiến” gồm 3 quyển “Thượng, Trung và Hạ” về nhà
để “nghiền ngẫm” và “tập tểnh”… làm thơ. Kết quả là cũng có được một vài… con cóc
nhảy ra sau này. Cám ơn Thầy đã là động
lực, khởi nguồn giúp cho con biết yêu thơ từ đó.
Nhắc đến Thầy không
thể không nhắc đến một biệt danh khác của Thầy là “Ông lái đò”. Nhân buổi Tất Niên của lớp, mời Thầy lên gíúp
vui, Thầy đã hát bài “Ông lái đò” sau khi ví von hình ảnh này với những người
Thầy đã tận tụy, dìu dắt, đưa đường cho biết bao học trò sang sông tới bến tương
lai và như những người khách vô tình, sang sông dễ có mấy ai còn nhớ đến “Ông
lái đò” nơi bến cũ vẫn ngày ngày “đưa mắt mỏi mòn trông”. Lời nhắn nhủ chân thành, cảm động đó khiến
tôi nhớ mãi. Nhớ đến ân nghĩa của Thầy Cô mỗi khi nghe lại bài hát “Ông lái
đò”.
Trong Tuyển Tập
2006, chắc cũng do cảm hứng từ bài hát và những kỷ niệm khó phai này. Thầy đã gửi đến cho đàn trò cũ một bài thơ đầy
xúc cảm:
BẾN CŨ, ĐÒ XƯA
Mơ về bến cũ đò xưa,
Mà nghe như gió như mưa trong lòng.
Sông xưa nước vẫn xuôi dòng,
Chiều say nước lớn, nước ròng càng say.
Ai về xứ bưởi Đồng Nai,
Ngô Quyền bến ấy, biết ngày nào quên.
Đò tôi xuôi ngược, lênh đênh,
Giữa dòng sóng dữ, bập bềnh nổi trôi.
Bể dâu trải mấy, cuộc đời,
Thuyền không, khách vắng, đổi dời, đục
trong.
Khách xưa giờ đã sang sông,
Biết ai còn nhớ tới ông lái đò.
ÔNG LÁI ĐÒ GIÀ
Bến Ngô Quyền 65-71
(Thân tặng các em cựu học sinh Ngô Quyền,
đặc biệt các em
Ban Văn Nghệ Hiệu Đoàn thời 69-71)
Các bạn của Tứ 1
năm xưa, chắc rằng, không ít trong lòng chúng ta vẫn còn giữ được những kỷ niệm
và mang cùng tâm trạng như tôi về hình ảnh của “Ông lái đò” ngày nào: Thầy Nguyễn
Văn Phú.
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
* Bài thơ do
Thầy Phú sáng tác trong những ngày đầu mới sang Mỹ. Dưới đây là nội dung toàn
bài mà Thầy đã gửi cho và nói rằng : “Vào lúc đó, vì xúc động nên chỉ đọc bốn câu đầu. Nay ghi lại
toàn bài để em tùy nghi sử dụng”.
“Đò chìm, ông lái bơ vơ,
Bỏ thuyền, xa bến, ngẩn ngơ nỗi sầu.
Triều dâng, sóng vỗ bạc đầu,
Khói sương hư ảo nhuốm màu tang thương.
Trời Tây làm khách tha hương,
Vẳng nghe đâu đó tiếng chuông gọi hồn.
Hoàng hôn, rồi lại hoàng hôn,
Hỏi người năm cũ, ai buồn hơn ai?”(1)
Chú thích:(1) Người năm cũ, ám chỉ cụ
Nguyễn Du.
"Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như"?.
Võ Thị
Ngọc Dung
|