NHỚ BÓNG MAI XƯA

1. Má tôi yêu nhất loài hoa mai. Yêu đến đỗi, má biến mảnh sân nhà thành vườn mai
giữa phố. Má nói, Mai được xếp bậc thứ nhất trong “ tứ hữu” Mai – Lan – Cúc –
Trúc. Bậc Thánh thơ ca Cao Bá Quát, người anh hùng chống chế độ phong kiến bạo
tàn, bình sinh tâm đắc hai câu đối:
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm,
Nhất
sinh đê thủ bái mai hoa…
(Mười năm bàn đạo giao du khó như
tìm gươm cổ,
Một đời chỉ biết cúi đầu trước hoa
mai)
Má tôi bảo, ông này là người có lý tưởng sâu sắc, nhân
cách sống cao thượng và chí khí quật cường. Cả cuộc đời, ông chỉ chịu cúi đầu
khuất phục hoa mai. Chưa hết, má còn thi vị hoa mai bằng câu ca dao…
Bông mai
vàng,
thuở nàng còn trẻ.
trên lối đi về,
Lắm kẻ đợi mong.
Bây giờ,
Tình đã sang sông.
Anh trèo cây khế,
Ngó mong đất trời.
Bớ em ơi!
Sao chẳng nói một lời…
Hiếm hoi lắm, má mới có chút thì giờ an nhiên như vậy.
Công việc hàng ngày gần như nuốt chững má tôi. Bốn giờ khuya, má lẳng lặng ra
đi khi các con chưa thức giấc. Nửa đêm má trở về nhà, các con say ngủ mất rồi. Sống
chung nhà, mà ít khi tôi… gặp má. Vì vậy hôm nào má bệnh nằm nhà, tôi lẩn quẩn
bên má hỏi han đủ chuyện. Nhưng vừa gượng dậy, má lại kéo tôi ra vườn chăm bẳm
mấy gốc hoa mai:
- Chỉ
cần một chậu mai ngày Tết, người ta đã có cả mùa xuân rồi. Nhà mình có cả vườn
mai, con thích hôn?
Má
càng “say” hoa mai, tôi càng tức tối nên hay phản đối:
- Con
thấy bông thọ đẹp hơn!...
Má
xoa đầu tôi, cười xòa:
- Bông
tên thọ, nhưng bông không sống được lâu…
Tôi tự ái trẻ con, không bảy tỏ với má rằng tôi cần
má. Tôi thích má quan tâm chỉ mỗi mình tôi. Tôi thèm kể kể má nghe, chuyện cô
khen tôi làm luận văn giỏi. Hay chuyện thằng Tí xóm Chùa đạp xe lọc cọc đòi chở
tôi về. Chà chà, bao nhiêu là chuyện con gái muốn kể má nghe. Vậy mà, má không
quan tâm đến nỗi lòng con gái… Dần dà tôi đâm ra ghét hoa mai, ghét thậm tệ,
ghét cực kỳ!... Lòng ghen tị khiến xui tôi hành động điên rồ. Rình rình cả nhà
đi vắng, tôi lần lượt tạt… nước sôi luộc mấy gốc mai. “Thiên bất dung gian”,
thiệt hỏng sai. Anh của tôi bất chợt về nhà, bắt quả tang tôi đang nghịch dại.
Khỏi phải nói, tôi bị trận đòn đau quắn đít, nhưng bụng dạ tôi rất hả hê. Mùa
xuân năm đó, mấy gốc mai bị tưới nước sôi… nụ đơm đầy đặc. Để sáng mùng một Tết,
hoa nở vàng tươi rừng rực khắp sân nhà… Thiệt là, ông Trời hỏng chịu chiều lòng
tôi tí tẹo nào…
Ông
ngoại của tôi nhìn tướng đoán người không sai. Ba tôi quá đỗi hào hoa, nên ngay
khi má sinh con đầu lòng, ba tôi có duyên tình mới. Ba vẫn về thăm nhà, vẫn đều
đặn “gửi” má thêm mầm sống. Thế nhưng mười lần như một, từ lúc cưu mang đến khi
sinh nở, má tôi chỉ có một mình. Con cái cả bầy, ba tôi chỉ nhớ tên đứa đầu
tiên. Số đông còn lại, nhìn khuôn mặt giống đứa con đầu, ba tôi sẽ biết đứa đó
con mình.
Chiều 30 tháng chạp hàng năm, cả nhà tôi đợi ba về
cùng đón giao thừa. Sáng mùng một Tết, anh chị em tôi dậy sớm, quần áo tinh
tươm… Đây là ngày duy nhất trong năm, gia đình tôi có đủ đầy quân số. Chúng tôi
bắt chước ba má, nghiêm trang đốt nhang cúng bái tổ tiên. Lễ xong cả đám chen
chúc xếp hàng, chờ ba phát phong bì lì xì màu đỏ, mà tối hôm qua má tôi xếp
sẵn. Bữa cơm đoàn tụ năm mới qua nhanh, chúng tôi ì xèo gầy tụ đánh bài, không
bị má la rầy chi hết. Má còn mang thức ăn, nước uống tiếp tế “cho mấy cha con
có sức… ngồi sòng”. Má tất ba tất bật, nhưng khuôn mặt má rạng ngời khi nhìn
cảnh cả nhà sum họp đông vui. Sang mùng hai Tết, khi chúng tôi còn say ngủ, thì
ba tôi đã bỏ đi rồi.
Trong hoàn cảnh đó, má xoay trở đủ nghề nuôi con ăn
học. Lúc con còn nhỏ, má đóng xe bán bánh mì gà ngay trước cổng. Khi chị của
tôi có thể trông giữ các em, má tôi quyết định chuyển nghề buôn bán cây rừng. Lên
rừng đủ thứ hiểm nguy, bệnh sốt rét rừng ai trải qua đều khiếp sợ. Kế đến, phải
nộp thuế “hai đầu”: vô rừng mua cây phải “lo lót” cho VC, về thành bán cây thì
“mãi lộ” kiểm lâm. Vẫn chưa hết, một phụ nữ nhan sắc như má tôi, rất vất vả đối
phó với đám đàn ông xa vợ dài ngày. Má đã từng đành lòng bỏ những chuyến cây
rừng quí hiếm, để giữ tròn đức hạnh của một phụ nữ Á đông. Trong giới làm ăn
thuở đó, má tôi nổi tiếng khéo léo giỏi giang. Làm cái nghề mà ngay đến đàn ông
còn kiêng dè, nhưng một tiểu thư “vóc hạc xương mai” như má tôi lại vô cùng
thành đạt. Hồi đó tôi chưa biết ăn diện, nên vẫn là con ngoan của má. Chứ anh
chị em tôi, bị má rầy hoài về tội tiêu hoang. Hàng tháng, má còn chu cấp tiền
cho ba nuôi con của … vợ bé. Anh chị tôi bực tức cằn nhằn, má nhẹ nhàng giải
thích:
-
Người dưng má còn giúp được, huống chi tụi nó là con của… ba bây!
2.
Mười tám tuổi, tôi đến nước Mỹ. Những tưởng, tôi chỉ tạm đi lánh nạn vài tuần.
Nào ngờ thời cuộc đổi thay, tôi như cánh chim lạc mất đường về. Tự dưng sống
không có má, tôi chơi vơi hụt hẫng tột cùng. Ở bên nhà, tôi đi học về có cơm
canh dọn sẵn. Áo quần tôi mặc, có người giúp việc giặt ủi tinh tươm. Má hay cho
tiền, và tôi mua sắm thoải mái những gì tôi thích.
Sang bên Mỹ, tôi đơn độc. Nhu cầu đời sống, tôi chỉ
trông cậy vào đồng lương tháng ít oi. Ngôn ngữ Mỹ chưa thông, tôi đã lao đi tìm
“job”. Quanh năm suốt tháng, tôi xoay tròn trong cái vòng lẩn quẩn “jobs và
bills”. Ở nước Mỹ, tìm “job” và mất “job” đều… dễ ẹc. Và ai cũng nơm nớp nỗi lo
thất nghiệp, vì thất nghiệp ở Mỹ thì sống cũng như… “chết mà biết thở” vậy
thôi! Tôi trở thành nô lệ của chính mình trên đất khách. Tôi không có quyền ban
phát thời gian cho tôi theo ý muốn chính mình. Ở xứ này, phải “ăn tốc hành, nói
tốc độ, đi tốc … váy”, khó có chỗ cho “hồn thơ lai láng” chen chân.
Họa hoằn lắm, tôi mới gửi thư về quê thăm má. Biết má
không vui và cũng chẳng cần, nhưng tôi chỉ biết gửi cho má những đồng dollars
như phần nào chuộc lỗi. Má tôi là là một phụ nữ rất giỏi xoay sở, có bao giờ má
cam chịu lâm cảnh túng thiếu đâu mà tôi lại gửi tiền? Tôi thương má, nhớ má
nhiều lắm! Nhưng thời gian ngủ nghỉ lấy sức “đi cày” tôi còn chưa đủ, làm sao
tôi có thể kể lể má nghe những chuyện tôi chắc má rất đau lòng? Mà thôi, má
đừng biết chi nhiều về cuộc sống tha hương của con nghe má! Má không biết đâu,
nhiều lúc con thèm có một buổi sáng thong dong trong vườn mai của má. Ở bên
này, không có giống mai vàng mộc mạc má yêu thương. Những khi nhớ má, thì thật
ngược đời, tôi lại khát khao được nâng niu một cánh mai vàng. Lúc ấy mà được ở
bên nhà, tôi nhất định sẽ cùng má bón phân, tưới nước cho mai. Tôi sẽ lắng nghe
má ngợi ca, về loài hoa từng làm đắm say tâm hồn của má. Rồi một ngày tôi nhận
hung tin, má tôi qua đời sau cơn bạo bệnh. Tôi nghe chừng mặt đất sụp đổ ngay
dưới chân mình. Thời gian đó, người Việt tha hương chưa được phép về lại quê
hương. Tôi bật khóc tức tưởi, hệt đứa trẻ thơ uất ức đòi sữa mẹ…
Ngày cuối tuần, tôi đến chùa cầu siêu cho má. Tôi
không thể tìm được một nhánh mai vàng. Quỳ bên chân Phật, tôi bồi hồi chiêm
nghiệm về má, về hoa. Giờ đây tôi mới hiểu, tại sao má yêu thương loài hoa ấy.
Là một phụ nữ nhân hậu, tâm hồn má đong đầy khát vọng yêu thương. Má vỗ về trái
tim nhạy cảm của mình, bằng cách trải lòng nhân với mọi người. Nương tựa hồn
mai, bởi tâm hồn má cô đơn quá! Một bầy con nhỏ, một gánh âu lo, một thân cò
vạc… Má tôi kiên cường vượt qua số phận, không một lời trách phận than thân.
Phải đến mùa xuân thứ 28 ở Mỹ, tôi mới có được cành
mai ngày Tết. Lần đầu đến xứ lạ, cánh mai gầy guộc mong manh. Bắt chước má, tôi
chiết nhánh mai trồng ở sân nhà. Suốt mùa đông, mai âm thầm chịu đựng rét mướt.
Để bước sang xuân, mai bất ngờ hóa thân mạnh mẽ, rực rỡ vàng tươi một cách diệu
kỳ… Tôi giải thích với các con tôi: “Hoa là hiện thân của bà ngoại, một loài
hoa thanh tao cao quí nhất đời…” Má đã dạy tôi một triết lý lớn ẩn trong hồn
mai nhỏ, hoa cứ lặng lẽ cho đời trọn vẹn hương sắc lẫn niềm tin…
Ngày muộn, mẹ
già hong tóc nắng,
Khác nào mây níu đỉnh Trường Sơn.
Mẹ ơi, giữ lấy vườn mai nhé!
Cho trải vàng xuân, đẹp bước con…
(trích
thơ)
DIỆP HOÀNG MAI